Thân lá khổ qua rừng điều trị xơ vữa động mạch vành, mỡ máu, huyết áp cao, mỡ gan, mỡ máu, tiểu đường

  • Trang 1/2

    Chuyển tới trang

  • 1
  • 2
    • 181 Bài viết

    • 106 Được cảm ơn

    #1
    Giá: 100,000đ
    Số điện thoại: O966699611
    Địa chỉ: NS 25, ngõ 155/176, đường Trường Chinh, Q.Thanh Xuân, TP.Hà Nội (trong giờ HC)

    Khổ qua rừng dạng thân lá

    Điều trị xơ vữa động mạch vành, mỡ máu, huyết áp cao, mỡ gan, mỡ máu, tiểu đường
    Chất Charantin trong thân lá khổ qua rừng là yếu tố quyết định giảm Triglycerides, Cholesterols xấu (LDL).
    Tác dụng của Thân lá khổ qua rừng:
    – GIẢM XƠ VỮA ĐỘNG MẠCH VÀNH - CHỐNG TẮC NGHẼN ĐỘNG MẠCH - GIẢM MỠ MÁU, MỠ GAN, THẬN - ỔN ĐỊNH và GIẢM ĐƯỜNG HUYẾT; ĐIỀU TRỊ CAO HUYẾT ÁP


    Đột quỵ, ung thư, bệnh tim mạch là 3 nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên thế giới. Nếu như căn bệnh thế kỷ AIDS mỗi năm cướp đi gần 2 triệu người thì con số đó với bệnh nhồi máu cơ tim là 20 triệu người.
    Một trong những nguyên nhân chính gây ra đột quỵ và nhồi máu cơ tim là do mạch máu bị tắc nghẽn bởi các cục máu đông hoặc các mảng mỡ bám trên thành mạch máu.
    Cục máu đông hoặc các mảng mỡ hình thành trong mạch máu do tỷ lệ Triglycerides và Cholesterol xấu (LDL) trong máu cao (Trên 200mg/dL với Triglycerides và trên 100mg/dL với LDL) không chuyển hóa hết ra năng lượng mà tạo thành các mảng bám là máu đông (do giữ lại thành phần máu di chuyển trên mạch máu) và các mảng mỡ (do bản thân tự bám vào thành mạch máu), từ đó gây hiện tượng nghẽn mạch.
    Như vậy, để giảm thiểu nguy cơ bị đột quỵ, nhồi máu cơ tim và một số bệnh nguy hiểm khác có cùng nguyên nhân nghẽn mạch máu thì việc giảm tỷ lệ Triglycerides và Cholesterol xấu (LDL) trong máu là điều cần quan tâm nhất.
    Trong thực tế có rất nhiều cách để giảm các thành phần nguy hiểm trên. Một trong những biện pháp có hiệu quả cao, an toàn với chi phí thấp đó là dùng thân lá khổ qua rừng. Chỉ cần dùng 20 ngày đã cho thấy kết quả giảm rõ rệt của Triglycerides và Cholesterol xấu (LDL). Một nghiên cứu của Mỹ c chỉ ra rằng dùng liên tục trong vòng 10 tuần sẽ giúp ũngcác chỉ số Triglycerides và Cholesterol xấu (LDL) trở về mức bình thường.

    Thân lá khổ qua rừng chứa chất Charantin có tác dụng giảm tỷ lệ Triglycerides và Cholesterol xấu (LDL) trong máu, qua đó đánh tan dần các mảng bám trên thành mạch máu, trả lại sự thông thoáng cho mạch máu và giảm thiểu nguy cơ xảy ra bệnh đột quỵ, nhồi máu cơ tim, giải quyết hậu quả của tai biến mạch máu não.

    Ngoài ra, thân lá khổ qua rừng còn có tác dụng giảm men gan, đưa huyết áp cao trở về mức cân bằng, giảm lượng đường trong máu qua đó có tác dụng giảm cân đối với người sử dụng, kể cả những người huyết áp thấp cũng có thể sử dụng được sau khi ăn no.

    Cách sử dụng Khổ qua dạng thân lá:

    Ngày dùng 2 lần sau mỗi bữa ăn. Mỗi lần pha 1-1,5gram với 200ml nước sôi, để 10-15 phút rồi uống và pha lại một lượt nước nữa để tận dụng dược tính của khổ qua. Không uống lúc đói.

    Giá bán sản phẩm:

    Quả khổ qua rừng: 200.000đ/1gói 60 gram. Trị bệnh tiểu đường; huyết áp cao; mỡ máu; mỡ bụng, vai, gáy (giảm cân); ngăn ngừa ung thư.
    Thân lá khổ qua rừng: 100.000đ/1gói 60 gram. Trị bệnh xơ vữa động mạch vành; mỡ máu, huyết áp cao
    .

    Thông tin liên hệ:
    Công ty TNHH ĐT & DV Tâm An
    Cơ sở 1: NS 25, ngõ 155/176, đường Trường Chinh, Q.Thanh Xuân, Hà Nội (trong giờ HC)
    Cơ sở 2: 81 Trung Liêt, Đống Đa, Hà Nội (ngoài giờ HC)
    Điện thoại: 04.3538.1752
    Hotline: 0129.689.1111/ 0966.699.611 - Website: Công ty TNHH đầu tư & dịch vụ Tâm An

    Mời quý vị tham khảo ý kiến của các khách hàng tại Fanpages của công ty:

    https://www.facebook.com/khoquathoc.vn

    https://www.facebook.com/muopdangrung

    https://www.facebook.com/doankiengtafood




    Chỉnh sửa lần cuối bởi tunglam0983; 07/01/2015 vào lúc 02:39 PM.
    KTĐ
    0917501045
    3 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    iframe: approve:
    • 181 Bài viết

    • 106 Được cảm ơn

    #2
    Liên minh ma quỷ giữa tiểu đường và tim mạch

    Ðái tháo đường (ÐTÐ) là một bệnh nội tiết chuyển hoá đặc trưng bởi sự tăng đường glucose máu mạn tính. Bệnh tiến triển mạn tính dẫn đến rối loạn và suy yếu chức năng của nhiều cơ quan đặc biệt là mắt, não, thận, thần kinh và tim mạch. Bệnh đang có xu hướng tăng rất nhanh trong khoảng 10 năm trở lại đây và đang trở thành mối quan tâm rất lớn cho toàn xã hội bởi những hậu quả nặng nề do bệnh để lại.

    Trong số các biến chứng do bệnh ĐTĐ gây nên, biến chứng tim mạch là phổ biến nhất. Nguyên nhân tử vong do căn nguyên tim mạch chiếm tới 70% ở các bệnh nhân ĐTĐ. Chính vì vậy, việc hiểu biết đặc điểm về bệnh lý cũng như những biểu hiện lâm sàng của biến chứng tim mạch sẽ góp phần phòng ngừa, hạn chế sự tiến triển của bệnh tim mạch ở các bệnh nhân ĐTĐ.

    Vì sao ÐTÐ gây biến chứng tim mạch?

    Tăng đường huyết sẽ gây nên tổn thương sớm ở tế bào nội mạc, làm rối loạn chức năng nội mạc mạch máu. Lớp nội mạc là lớp tế bào trong cùng của thành mạch, nơi tiếp xúc trực tiếp giữa thành mạch và các thành phần của máu. Khi chức năng nội mạc bị rối loạn nó sẽ làm cho các phân tử cholesterol dễ dàng chui qua lớp nội mạc vào trong, kết hợp với tăng khả năng kết dính và xuyên thành của tế bào bạch cầu vào trong lớp nội mạc. Từ đó sẽ hình thành mảng vữa xơ động mạch, khi mảng vữa xơ đã hình thành thì tiến triển rất nhanh dẫn đến hẹp dần lòng mạch, gây nên các biểu hiện lâm sàng của bệnh thiếu máu cục bộ mạn tính ở cơ quan tổ chức. Ngoài ra, khi lớp nội mạc mạch máu bị tổn thương sẽ tạo cơ hội thuận lợi cho sự co mạch kết hợp với sự kết dính các tế bào tiểu cầu, hình thành nên cục huyết khối trong lòng mạch làm tắc mạch cấp tính gây nên các biểu hiện lâm sàng của thiếu máu cục bộ cấp tính của tổ chức như cơn đau thắt ngực không ổn định, nhồi máu cơ tim, nhồi máu não… đe doạ nghiêm trọng tính mạng người bệnh.

    Tuỳ theo vị trí của mạch máu bị thương tổn mà có các biểu hiện lâm sàng khác nhau. Nếu tổn thương động mạch mắt sẽ gây nên giảm thị lực rồi dẫn đến mù loà. Nếu tổn thương ở động mạch thận sẽ dẫn đến suy thận, tăng huyết áp. Tổn thương động mạch vành sẽ dẫn đến cơ đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, đột tử, tổn thương mạch máu não sẽ dẫn đến tai biến mạch máu não và tổn thương ở động mạch chi sẽ dẫn đến biểu hiện viêm tắc động mạch (đi cà nhắc cách hồi, hoại tử đầu chi…).

    Yếu tố nào làm nặng thêm biến chứng tim mạch ở bệnh nhân ÐTÐ?

    Các yếu tố này khi kết hợp với ĐTĐ sẽ làm tăng nguy cơ biến chứng tim mạch lên nhiều lần. Càng nhiều yếu tố kết hợp, tỷ lệ biến chứng tim mạch càng tăng mạnh. Các yếu tố đó gồm: tuổi cao; tăng huyết áp; rối loạn lipid máu (tăng cholesterol hoặc triglycerid máu); béo phì (đặc biệt là béo bụng); nghiện thuốc lào, thuốc lá; tình trạng ít vận động; tiền sử gia đình có người chết vì nhồi máu cơ tim.

    Trong số này có hai yếu tố không thể tác động được, đó là tuổi cao và tiền sử gia đình; các yếu tố còn lại đều có thể tác động làm thay đổi được. Chính vì vậy, khi điều trị bệnh ĐTĐ không bao giờ được bỏ quên tác động vào các yếu tố nguy cơ này, đặc biệt là thói quen hút thuốc lá.

    Biểu hiện của bệnh tim mạch ở bệnh nhân ÐTÐ

    Bệnh mạch vành: Đây là căn nguyên tử vong chủ yếu của bệnh lý tim mạch ở bệnh nhân ĐTĐ. Một đặc điểm rất quan trọng phải luôn luôn nhấn mạnh, đó là biểu hiện lâm sàng bệnh mạch vành ở bệnh nhân ĐTĐ rất nghèo nàn. Nhiều bệnh nhân bị thiếu máu cơ tim, thậm chí nhồi máu cơ tim nặng mà không hề biết, chỉ khi đi khám kiểm tra sức khoẻ mới tình cờ phát hiện được. Chính vì lý do đó, những bệnh nhân bị bệnh ĐTĐ phải thường xuyên đi kiểm tra tim mạch định kỳ mới có thể phát hiện sớm các dấu hiệu của thiếu máu cục bộ cơ tim. Tuy nhiên, cũng có nhiều bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng bằng cơn đau thắt ngực (cơn đau thắt sau xương ức, đau có cảm giác như bóp nghẹt tim, lan lên vai trái, cằm hoặc cánh tay trái); hoặc cảm giác tức nặng ngực trái, hồi hộp đánh trống ngực… Trước tất cả các dấu hiệu bất thường, dù là rất nhỏ, người bệnh cũng cần được khám xét kỹ lưỡng về tim mạch. Bệnh nhân có thể được chỉ định làm các thăm dò cần thiết để chẩn đoán bệnh mạch vành như ghi điện tâm đồ lúc nghỉ, ghi điện tim liên tục 24 giờ theo phương pháp Holter; siêu âm tim, nghiệm pháp gắng sức, xạ hình tưới máu cơ tim và chụp mạch vành để phát hiện kịp thời các dấu hiệu của thiếu máu cơ tim và xử trí.

    Bệnh lý mạch máu não: Chủ yếu là gặp tai biến mạch máu não (hay đột quỵ não) biểu hiện bằng nhồi máu não hoặc xuất huyết não. Biểu hiện lâm sàng bằng đột ngột bại hoặc liệt một nửa người, méo miệng, có thể kèm theo rối loạn ý thức ở các mức độ khác nhau. Các biểu hiện lâm sàng cũng có thể thoáng qua rồi mất, sau đó lại tái phát, cũng có thể bị nặng ngay từ đầu để lại di chứng tàn phế hoặc có thể tử vong; hoặc một vài lần bị tai biến thoáng qua, sau đó bị nặng.

    Bệnh lý mạch máu ngoại biên: Biểu hiện sớm của tổn thương mạch máu ngoại biên là dấu hiệu “đi cà nhắc cách hồi”, nghĩa là người bệnh thấy đau, mỏi chân hay chuột rút khi đi bộ; sau khi nghỉ ngơi, các dấu hiệu hết đi, bệnh nhân lại có thể tiếp tục đi được cho đến khi lại xuất hiện lại các triệu chứng đau. Ngoài ra còn gặp các dấu hiệu khác như chuột rút, loét hay hoại tử đầu chi; sờ mạch có thể thấy mạch mu chân mất hoặc yếu; mất mạch khoeo, huyết áp chi dưới thấp…

    TS. Nguyễn Hải

    Chỉnh sửa lần cuối bởi tunglam0983; 15/01/2015 vào lúc 11:25 AM.
    KTĐ
    0917501045
    6 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    iframe: approve:
    • 181 Bài viết

    • 106 Được cảm ơn

    #3
    Những bài thuốc hay từ trái khổ qua

    Trên lâm sàng, khổ qua thường dùng chữa các chứng do bệnh nhiệt gây thử nhiệt phiền khát, trúng thử (say nóng), ung sưng, mắt đỏ đau nhức, kiết lỵ, viêm quầng, nhọt độc, tiểu ít…

    Khổ qua (mướp đắng) – Momordia charantia L. thuộc họ Hồ lô (Cucurbitaceae). Vị đắng, tính mát, không độc. Vào kinh tâm, can, tỳ và vị.

    Điều trị tăng huyết áp: khổ qua tươi 250g, hành hoa, gừng băm, muối, bột nêm, nước tương (mắm), dầu mè với mỗi thứ vừa đủ. Khổ qua bổ hột, rửa sạch, trụng nước sôi 3 phút, thái sợi, trộn vào hành hoa, gừng băm, muối, bột nêm, nước tương (mắm), dầu mè, trộn đều thì dùng.

    Điều trị choáng váng, tăng huyết áp: khổ qua 250g, nghêu 0,5kg, muối, rượu vang, tỏi băm, nước cốt gừng, rượu trắng, dầu mè với mỗi thứ vừa đủ. Khổ qua móc bỏ ruột rửa sạch, trụng nước sôi, vớt ra, ngâm nước lạnh loại bỏ vị đắng, thái lát, nghêu cho vào chảo nấu nở ra, bỏ vỏ, lấy thịt, cho vào chảo có ít dầu, thêm nước cốt gừng, rượu trắng, muối đảo đều. Khổ qua lát lót đáy chảo, bỏ thịt nghêu trên đó, thêm nước cốt gừng, rượu trắng, muối, tỏi băm, nước nấu đến khi thịt nghêu thắm vị, rưới dầu mè thì dùng.

    Điều trị xơ vữa động mạch: khổ qua tươi 250g, dầu ăn, gừng sợi, hành hoa, muối, bột nêm với mỗi thứ vừa đủ. Khổ qua tươi móc bỏ ruột, rửa sạch, thái sợi, đổ dầu ăn vào chảo, thêm gừng sợi, hành hoa phi thơm, bỏ khổ qua sợi xào nhanh trong giây lát, nêm muối, bột nêm xào sơ thì dùng.

    Điều trị cao mỡ máu: khổ qua 1 quả, mật ong 20ml, sữa bò 200ml. Khổ qua bỏ hột, rửa sạch, thái lát hoặc thái nhuyễn, cùng sữa bò xay lấy nước, đổ vào ly, thêm mật ong trộn đều. Mỗi sáng và chiều chia uống 2 lần.

    Điều trị phiền nhiệt miệng khát: người mất sức, vã mồ hôi, khí âm lưỡng hư: khổ qua 200g, thịt gà 100g, đầu hành, muối, bột nêm, giấm, dầu mè với mỗi thứ vừa đủ. Khổ qua, thịt gà lần lượt rửa sạch, khổ qua bỏ ruột, thái cọng dài, thịt gà thái sợi. Khổ qua trụng trong nước sôi, vớt ra, để ráo, đặt trong thau; gà sợi cho vào chảo xào sơ, cũng chứa trong thau, thêm vừa đủ đầu hành, muối, bột nêm, giấm, dầu mè trộn đều thì dùng.

    Điều trị nhiệt độc tả lỵ: dây khổ qua 60g, đường đỏ vừa đủ. Dây khổ qua rửa sạch, cho vào nồi đất, đổ nước vừa đủ, bắc lên bếp, đun sôi bằng lửa mạnh, chuyển lửa nhỏ ninh lấy nước cốt, bỏ bã, lấy nước, thêm đường đỏ thì dùng. Ngày 3 – 4 lần.

    Điều trị vị khí thống: khổ qua vừa đủ rửa sạch, giã nhuyễn, uống với nước ấm.

    Điều trị cảm cúm: ruột khổ qua vừa đủ rửa sạch, cho vào nồi đất, đổ nước vừa đủ, bắc lên bếp, đun sôi bằng lửa mạnh, chuyển lửa nhỏ ninh lấy nước cốt, bỏ bã, lấy nước thì dùng.

    Điều trị thấp chẩn (chàm): lá khổ qua vừa đủ rửa sạch, giã nhuyễn, đắp tại chỗ.

    Điều trị trẻ tiêu chảy: dây khổ qua vừa đủ rửa sạch, cho vào nồi đất, đổ nước vừa đủ, bắc lên bếp, đun sôi bằng lửa mạnh, chuyển lửa nhỏ ninh lấy nước cốt, bỏ bã lấy nước thì dùng.

    Điều trị trẻ em kiết lỵ: khổ qua vừa đủ, mật ong vừa đủ. Khổ qua rửa sạch, giã vắt lấy nước, pha với mật ong, ngày 1 – 2 lần.

    Điều trị trẻ nôn ói: rễ khổ qua 6g rửa sạch, cho vào nồi đất, đổ nước vừa đủ, bắc lên bếp, đun sôi bằng lửa mạnh, chuyển lửa nhỏ ninh lấy nước cốt, bỏ bã, lấy nước thì dùng.

    Điều trị đại tiện ra máu: rễ khổ qua 200g rửa sạch, cho vào nồi đất, đổ nước vừa đủ, bắc lên bếp, đun sôi bằng lửa mạnh, chuyển lửa nhỏ ninh lấy nước cốt, bỏ bã lấy nước thì dùng.

    Điều trị đinh nhọt đau không chịu được: lá khổ qua rửa sạch, phơi khô, tán mịn, uống với rượu trắng 15g.

    Điều trị nhọt lâu ngày không vỡ: khổ qua 1 quả rửa sạch, vắt nước, thoa lên nhọt, ngày 3 lần.

    Điều trị nhiệt độc nhọt sưng: lá khổ qua vừa đủ rửa sạch, giã nhuyễn, vắt nước, thoa tại chỗ.

    Điều trị tiêu khát (bệnh đái tháo đường): khổ qua 250g rửa sạch, cho vào nồi, đổ nước vừa đủ, bắc lên bếp, đun sôi bằng lửa mạnh, chuyển lửa nhỏ ninh lấy nước cốt, bỏ bã lấy nước thì dùng. Ngày vài lần, mỗi lần 1 chén.

    Điều trị bệnh nhọt, người cao tuổi bị đái tháo đường biến chứng võng mạc: khổ qua 100g, bắp 100g, đường phèn 10g. Khổ qua và bắp lần lượt rửa sạch, hai thứ cùng cho vào nồi, đổ nước vừa đủ, bắc lên bếp, đun sôi bằng lửa mạnh, chuyển lửa ninh chè, khi chín, nêm đường phèn cho tan đều. Mỗi ngày chia dùng sáng và chiều.

    Điều trị rết cắn: lá khổ qua 50g, vắt nước, thoa tại chỗ.

    Điều trị hôi miệng: khổ qua rửa sạch, thái sợi, ướp muối, thêm dầu mè một ít, làm gỏi.

    Điều trị suy giảm chức năng tình dục, di tinh, xuất tinh sớm: khổ qua tươi 2 quả, thịt heo nạc 200g, nấm hương ngâm nước 30g, tôm khô 20g, hành hoa, muối, bột bắp, nước tương với mỗi thứ vừa đủ. Khổ qua tươi, thịt heo nạc, nấm hương ngâm nước, tôm khô mỗi thứ lần lượt rửa sạch, khổ qua thái khoanh, từng khoanh móc bỏ ruột, sử dụng sau.

    Hành hoa, tôm khô băm nhuyễn, cùng trộn vào thịt heo, thêm nước tương, muối và một ít nước, trộn đều bằng lực đồng tâm, cho dính, lại thêm bột bắp trộn vào, làm nhân, lần lượt dồn vào từng khoanh khổ qua. Khổ quả dồn thịt đặt vào khay, cho vào lò hấp chín trong 20 phút thì dùng.

    Điều trị béo phì thể nhẹ: khổ qua tươi 250g, đậu xị, ớt sợi, đậu tương, dầu ăn, gừng băm, hành hoa, muối, bột nêm với mỗi thứ vừa đủ. Khổ qua móc bỏ ruột, rửa sạch, thái lát mỏng. Đổ dầu vào chảo cho nóng, thêm khổ qua, đậu xị, ớt sợi, đậu tương, hành, gừng băm cùng vào chảo xào sơ, sau cùng nêm muối, bột nêm xào sơ thì dùng.

    Điều trị viêm gan mạn tính, gan nhiễm mỡ: khổ qua tươi 250g, rau sam tươi 250g, đường trắng 30g. Khổ qua và rau sam lần lượt loại bỏ tạp chất, rửa sạch, mát khô, khổ qua thái lát, rau sam thái nhuyễn, hai thứ cùng xay nhuyễn, cho vào tô, nêm đường trắng trộn đều, sau 2 giờ chắt ra nước cốt. Chia dùng mỗi sáng và chiều.

    Điều trị hội chứng mỏi mệt: khổ qua 1 kg, rửa sạch, phơi sấy khô, tán bột, chứa trong lọ hoặc trong túi lọc, mỗi gói 10g, miệng túi đính sợi dây, dán kín miệng. Cho vào ly hãm với nước sôi, ngày 3 lần, mỗi lần 1 gói.

    Điều trị sưng tuyến mang tai: khổ qua 1 quả, rong biển, muối, bột nêm, dầu mè với mỗi thứ vừa đủ. Khổ qua móc bỏ ruột, rửa sạch, thái lát, cho vào nồi có nước dùng, đun sôi, vớt váng, sau khi khổ qua nhừ, thêm rong biển, muối, bột nêm, dầu mè thì dùng.

    Điều trị loãng xương: khổ qua tươi 200g, đậu phụ non 2 lát, hành hoa, gừng băm, muối, bột nêm với mỗi thứ vừa đủ. Khổ qua bỏ hột, rửa sạch, thái lát mỏng, trụng qua nước sôi, vớt ra, đậu phụ cho vào nồi nóng có dầu mè chiên sơ, thêm nước dùng, khổ qua lát, hành hoa, gừng băm, hầm với lửa vừa 10 phút, nêm muối, bột nêm thì dùng.
    Nguồn: Những bài thuốc hay từ trái khổ qua

    Chỉnh sửa lần cuối bởi tunglam0983; 15/01/2015 vào lúc 11:24 AM.
    KTĐ
    0917501045
    6 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    iframe: approve:
    • 181 Bài viết

    • 106 Được cảm ơn

    #4
    Nhịn ăn sáng tăng nguy cơ tiểu đường
    Các nhà khoa học khẳng định, việc bỏ bữa sáng khi còn trẻ sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường trong cuộc sống sau này.
    Một nghiên cứu ở Anh cho thấy những người lúc trẻ không ăn sáng mỗi ngày sẽ tăng cao nguy cơ kháng insulin, đây là yếu tố cấu thành trong hầu hết trường hợp tiểu đường type 2 lúc trưởng thành.

    Ảnh: everythingeggs
    Những người lúc trẻ không ăn sáng mỗi ngày sẽ làm tăng cao nguy cơ mắc bệnh tiểu đường loại 2 lúc trưởng thành. Ảnh minh họa: everythingeggs.
    Các nhà khoa học thuộc các trường Đại học Oxford, Cambridge, Glasgow và St George’s London đã theo dõi trên 4.000 học sinh cấp 1 trong độ tuổi 9-10, giám sát mức độ thường xuyên ăn sáng và khẩu phần ăn. Kết quả cho thấy trẻ em không ăn sáng có nhiều dấu hiệu về máu liên quan đến nguy cơ mắc tiểu đường cao hơn là trẻ ăn sáng đầy đủ. Không ăn sáng cơ thể không thể đáp ứng đủ các hormone điều tiết quá trình chuyển hóa lượng đường trong máu.

    "Nhiều kết quả theo dõi cho thấy trẻ thường xuyên ăn sáng với các thực phẩm giàu chất xơ và ngũ cốc sẽ chống lại được nguy cơ mắc bệnh tiểu đường", nghiên cứu tiết lộ.

    Tiến sĩ Angela Donin, trưởng nhóm nghiên cứu trường St George, Đại học London cũng cho biết: "Ở Anh, hiện có khoảng ba triệu người được cho là mắc tiểu đường type 2, trong đó chủ yếu liên quan đến lối sống và béo phì. Bệnh xảy ra khi cơ thể kháng insulin hoặc không đáp ứng đủ hormone cần thiết để chuyển hóa đường trong máu dẫn đến các triệu chứng gây mệt mỏi. Bệnh tiểu đường còn có thể gây mù lòa, suy thận, gia tăng nguy cơ mắc các bệnh về tim và đột quỵ".

    Theo tiến sĩ Alasdair Rankin, giám đốc nghiên cứu của một tổ chức quỹ từ thiện, cần có thêm những nghiên cứu chuyên sâu hơn nữa để tăng cường hiểu biết về tác hại của việc không ăn sáng và mối quan hệ của nó với sự phát triển của bệnh tiểu đường type 2. Việc có một bữa sáng lành mạnh để cân bằng chế độ ăn uống mang lại lợi ích sức khỏe và tinh thần to lớn

    KTĐ
    0917501045
    6 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    iframe: approve:
    • 10 Bài viết

    • 28 Được cảm ơn

    #5
    Mướp đắng là một loại rau chức năng với các hiệu ứng có lợi đối với sức khỏe
    Mướp đắng là một loại rau phổ biến ở một số nước châu Á, nơi mà các lợi ích sức khỏe của loại cây này đặc biệt nổi tiếng như khả năng giảm đường trong máu ở bệnh nhân tiểu đường. Mướp đắng đã được sử dụn

    6 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    iframe: approve:
    • 22 Bài viết

    • 21 Được cảm ơn

    #6
    Khổ qua thóc, hay còn gọi là mướp Mường, cứt quạ. Khổ qua thóc có tên khoa học là trichosanthes. Khổ qua thóc mọc nhiều ở những vùng đất trống thuộc vùng Đông Nam bộ.
    Có tác dụng ổn định và giảm đường huyết. Giảm cao huyết áp, như giảm mỡ máu, mỡ gan, thận. Đặc biệt, giảm xơ vữa động mạch vành, chống tắc nghẽn động mạch rất hiệu quả.


    4 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    iframe: approve:
    • 16 Bài viết

    • 58 Được cảm ơn

    #7
    Đến mùa mướp đắng năm nào nhà mình cũng trồng. trước đây toàn lấy ngọn nấu canh. Cũng chả biết là ngọn mướp hạ huyết áp. Mà cả nhà chả ai bị làm sao.
    Giờ thì biết rõ rồi!!!

    Chỉnh sửa lần cuối bởi hoaianh2013; 28/10/2014 vào lúc 11:06 AM.
    4 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    iframe: approve:
    • 11 Bài viết

    • 9 Được cảm ơn

    #8
    Không bị bệnh thì có uống được không?

    iframe: approve:
    • 1 Bài viết

    • 2 Được cảm ơn

    #9
    Khổ qua dùng như rau được.

    2 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    iframe: approve:
    • 10 Bài viết

    • 28 Được cảm ơn

    #10
    Đúng như các cụ nói: Họa vô đơn chí, Phúc bất trùng lai.
    Bệnh nọ quàng bệnh kia.
    Trích dẫn Nguyên văn bởi tunglam0983 Xem bài viết
    Liên minh ma quỷ giữa tiểu đường và tim mạch

    Ðái tháo đường (ÐTÐ) là một bệnh nội tiết chuyển hoá đặc trưng bởi sự tăng đường glucose máu mạn tính. Bệnh tiến triển mạn tính dẫn đến rối loạn và suy yếu chức năng của nhiều cơ quan đặc biệt là mắt, não, thận, thần kinh và tim mạch. Bệnh đang có xu hướng tăng rất nhanh trong khoảng 10 năm trở lại đây và đang trở thành mối quan tâm rất lớn cho toàn xã hội bởi những hậu quả nặng nề do bệnh để lại.

    Trong số các biến chứng do bệnh ĐTĐ gây nên, biến chứng tim mạch là phổ biến nhất. Nguyên nhân tử vong do căn nguyên tim mạch chiếm tới 70% ở các bệnh nhân ĐTĐ. Chính vì vậy, việc hiểu biết đặc điểm về bệnh lý cũng như những biểu hiện lâm sàng của biến chứng tim mạch sẽ góp phần phòng ngừa, hạn chế sự tiến triển của bệnh tim mạch ở các bệnh nhân ĐTĐ.

    Cần kiểm tra tim mạch thường xuyên ở người bệnh đái tháo đường.
    Cần kiểm tra tim mạch thường xuyên ở người bệnh đái tháo đường.

    Vì sao ÐTÐ gây biến chứng tim mạch?

    Tăng đường huyết sẽ gây nên tổn thương sớm ở tế bào nội mạc, làm rối loạn chức năng nội mạc mạch máu. Lớp nội mạc là lớp tế bào trong cùng của thành mạch, nơi tiếp xúc trực tiếp giữa thành mạch và các thành phần của máu. Khi chức năng nội mạc bị rối loạn nó sẽ làm cho các phân tử cholesterol dễ dàng chui qua lớp nội mạc vào trong, kết hợp với tăng khả năng kết dính và xuyên thành của tế bào bạch cầu vào trong lớp nội mạc. Từ đó sẽ hình thành mảng vữa xơ động mạch, khi mảng vữa xơ đã hình thành thì tiến triển rất nhanh dẫn đến hẹp dần lòng mạch, gây nên các biểu hiện lâm sàng của bệnh thiếu máu cục bộ mạn tính ở cơ quan tổ chức. Ngoài ra, khi lớp nội mạc mạch máu bị tổn thương sẽ tạo cơ hội thuận lợi cho sự co mạch kết hợp với sự kết dính các tế bào tiểu cầu, hình thành nên cục huyết khối trong lòng mạch làm tắc mạch cấp tính gây nên các biểu hiện lâm sàng của thiếu máu cục bộ cấp tính của tổ chức như cơn đau thắt ngực không ổn định, nhồi máu cơ tim, nhồi máu não… đe doạ nghiêm trọng tính mạng người bệnh.

    Tuỳ theo vị trí của mạch máu bị thương tổn mà có các biểu hiện lâm sàng khác nhau. Nếu tổn thương động mạch mắt sẽ gây nên giảm thị lực rồi dẫn đến mù loà. Nếu tổn thương ở động mạch thận sẽ dẫn đến suy thận, tăng huyết áp. Tổn thương động mạch vành sẽ dẫn đến cơ đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, đột tử, tổn thương mạch máu não sẽ dẫn đến tai biến mạch máu não và tổn thương ở động mạch chi sẽ dẫn đến biểu hiện viêm tắc động mạch (đi cà nhắc cách hồi, hoại tử đầu chi…).

    Mạch máu bình thường (trên cùng) và mạch máu khi bị tiểu đường.
    Mạch máu bình thường (trên cùng) và mạch máu khi bị tiểu đường.

    Yếu tố nào làm nặng thêm biến chứng tim mạch ở bệnh nhân ÐTÐ?

    Các yếu tố này khi kết hợp với ĐTĐ sẽ làm tăng nguy cơ biến chứng tim mạch lên nhiều lần. Càng nhiều yếu tố kết hợp, tỷ lệ biến chứng tim mạch càng tăng mạnh. Các yếu tố đó gồm: tuổi cao; tăng huyết áp; rối loạn lipid máu (tăng cholesterol hoặc triglycerid máu); béo phì (đặc biệt là béo bụng); nghiện thuốc lào, thuốc lá; tình trạng ít vận động; tiền sử gia đình có người chết vì nhồi máu cơ tim.

    Trong số này có hai yếu tố không thể tác động được, đó là tuổi cao và tiền sử gia đình; các yếu tố còn lại đều có thể tác động làm thay đổi được. Chính vì vậy, khi điều trị bệnh ĐTĐ không bao giờ được bỏ quên tác động vào các yếu tố nguy cơ này, đặc biệt là thói quen hút thuốc lá.

    Biểu hiện của bệnh tim mạch ở bệnh nhân ÐTÐ

    Bệnh mạch vành: Đây là căn nguyên tử vong chủ yếu của bệnh lý tim mạch ở bệnh nhân ĐTĐ. Một đặc điểm rất quan trọng phải luôn luôn nhấn mạnh, đó là biểu hiện lâm sàng bệnh mạch vành ở bệnh nhân ĐTĐ rất nghèo nàn. Nhiều bệnh nhân bị thiếu máu cơ tim, thậm chí nhồi máu cơ tim nặng mà không hề biết, chỉ khi đi khám kiểm tra sức khoẻ mới tình cờ phát hiện được. Chính vì lý do đó, những bệnh nhân bị bệnh ĐTĐ phải thường xuyên đi kiểm tra tim mạch định kỳ mới có thể phát hiện sớm các dấu hiệu của thiếu máu cục bộ cơ tim. Tuy nhiên, cũng có nhiều bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng bằng cơn đau thắt ngực (cơn đau thắt sau xương ức, đau có cảm giác như bóp nghẹt tim, lan lên vai trái, cằm hoặc cánh tay trái); hoặc cảm giác tức nặng ngực trái, hồi hộp đánh trống ngực… Trước tất cả các dấu hiệu bất thường, dù là rất nhỏ, người bệnh cũng cần được khám xét kỹ lưỡng về tim mạch. Bệnh nhân có thể được chỉ định làm các thăm dò cần thiết để chẩn đoán bệnh mạch vành như ghi điện tâm đồ lúc nghỉ, ghi điện tim liên tục 24 giờ theo phương pháp Holter; siêu âm tim, nghiệm pháp gắng sức, xạ hình tưới máu cơ tim và chụp mạch vành để phát hiện kịp thời các dấu hiệu của thiếu máu cơ tim và xử trí.

    Bệnh lý mạch máu não: Chủ yếu là gặp tai biến mạch máu não (hay đột quỵ não) biểu hiện bằng nhồi máu não hoặc xuất huyết não. Biểu hiện lâm sàng bằng đột ngột bại hoặc liệt một nửa người, méo miệng, có thể kèm theo rối loạn ý thức ở các mức độ khác nhau. Các biểu hiện lâm sàng cũng có thể thoáng qua rồi mất, sau đó lại tái phát, cũng có thể bị nặng ngay từ đầu để lại di chứng tàn phế hoặc có thể tử vong; hoặc một vài lần bị tai biến thoáng qua, sau đó bị nặng.

    Bệnh lý mạch máu ngoại biên: Biểu hiện sớm của tổn thương mạch máu ngoại biên là dấu hiệu “đi cà nhắc cách hồi”, nghĩa là người bệnh thấy đau, mỏi chân hay chuột rút khi đi bộ; sau khi nghỉ ngơi, các dấu hiệu hết đi, bệnh nhân lại có thể tiếp tục đi được cho đến khi lại xuất hiện lại các triệu chứng đau. Ngoài ra còn gặp các dấu hiệu khác như chuột rút, loét hay hoại tử đầu chi; sờ mạch có thể thấy mạch mu chân mất hoặc yếu; mất mạch khoeo, huyết áp chi dưới thấp…

    TS. Nguyễn Hải


    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    iframe: approve:
  • Trang 1/2

    Chuyển tới trang

  • 1
  • 2

LinkBacks Enabled by vBSEO