Hai cách kiểm soát chứng từ trong kế toán ngân hàng


1.Kiểm soát chứng từ


Kiểm soát chứng từ là việc kiểm tra tính đúng đắn của các yếu tố đã ghi trên chứng từ nhằm đảm bảo tính hợp lộ, hợp pháp của chứng từ và nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong suốt quá trình xử lý, báo cáo qua dich vu ke toan tron goi .


b. Kiểm soát sau


Do kiểm soát viên kiểm soát khi nhận chứng từ từ bộ phận thanh toán viên, thủ quỹ chuyển đến trước khi ghi chép vào sổ sách kế toán. Kiểm soát viên là người có trình độ nghiệp vụ chuyên môn, có khả năng kiểm soát tương đương với kế toán trưởng. Nội dung kiểm soát trong bao gồm:


- Kiểm tra chữ ký của thanh toán viên, thủ quỹ trên chứng từ tiền mặt.

- Kiểm soát chữ ký của thanh toán viên trên chứng từ chuyển khoản.


- Kiểm soát tương tự như thanh toán viên trừ việc kiểm tra số dư (vì chỉ có thanh toán viên mới giữ sổ phụ tiền gửi khách hàng)



b. Kiểm soát trước


Do thanh toán viên thực hiện khi tiếp nhận chứng từ của khách hàng. Nội dung kiểm soát trước bao gồm :


- Số dư trên tài khoản của khách hàng có đảm bảo đủ thanh toán hay không?

- Nội dung nghiệp vụ kinh tế phát sinh có phù hợp với thể lệ tín dụng, thanh toán của ngân hàng hay chưa ?


- Nghiệp vụ kinh tế phát sinh trên chứng từ có phải là lệnh của chủ tài khoản hay không ?

- Chứng từ lập đúng quy định chưa ?



2. Phân loại chứng từ giấy



- Chứng từ giấy: vật mang tin trong trường hợp này là các tờ giấy. Nói chung, chứng từ giấy là một văn bản đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn của chứng từ


- Chứng từ điện tử : Luật Kế toán của nước CHXHCNVN ban hành ngày 17/06/2003, có hiệu lực thi hành từ 01/01/2004 thì: chứng từ điện tử là chứng từ kế toán được thể hiện dưới dạng dữ liệu điện tử đã được mã hóa mà không có sự thay đổi trong quá trình truyền qua mạng máy tính hoặc trên vật mang tin như băng từ, đĩa từ, các loại thẻ thanh toán ...


(Nghị định số 128/2004/NĐ-CP của Chính phủ có một số quy định chi tiết hơn về chứng từ điện tử) , báo cáo qua cong ty dich vu ke toan