Thuốc Nam: Chữa Máu nhiễm mỡ, Gan nhiễm mỡ, Men gan cao, Phục hồi chức năng gan

    • 2,487 Bài viết

    • 0 Được cảm ơn

    #501
    Cảnh báo từ trị số xét nghiệm mỡ máu
    Khi xét nghiệm mỡ máu, các trị số sẽ “cảnh báo” cho thân chủ những dấu hiệu nguy hiểm nhằm kịp thời điều chỉnh lối sống hoặc phải điều trị để kiểm soát tình trạng rối loạn mỡ máu.
    Rối loạn mỡ máu âm thầm nhưng lại gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe.
    Rối loạn mỡ máu âm thầm nhưng lại gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe.
    Rối loạn mỡ máu (hay còn gọi là tăng mỡ trong máu hay tăng cholesterol máu) là bệnh lý có tăng thành phần mỡ gây tác hại và giảm thành phần mỡ bảo vệ cho cơ thể; đồng thời đây là nguy cơ chính dẫn đến cao huyết áp, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, xơ vữa động mạch...

    Khi xét nghiệm mỡ máu, 4 chỉ số quan trọng cần được quan tâm, đó là: cholesterol toàn phần, LDL-cholesterol (LDL-c), HDL-cholesterol (HDL-c) và triglyceride.

    Cholesterol và triglyceride được mang đi trong máu nhờ kết hợp với một chất có tên là lipoprotein là HDL và LDL. Cholesterol kết hợp với LDL (được ký hiệu là LDL-c) là dạng cholesterol khi dư thừa sẽ gây hại cho cơ thể. Chúng vận chuyển cholesterol vào trong máu, lắng đọng vào thành mạch máu và là yếu tố chủ chốt hình thành mảng xơ vữa động mạch. Cholesterol kết hợp với HDL (được ký hiệu là HDL-c) là một dạng cholesterol có lợi cho cơ thể. HDL-c chống lại quá trình xơ mỡ động mạch bằng cách mang cholesterol dư thừa ứ đọng từ trong thành mạch máu trở về gan.

    Như vậy, muốn phát hiện sớm cần làm những xét nghiệm đầy đủ để đánh giá tình trạng mỡ trong máu. Trong bốn thành phần xét nghiệm có đến ba thành phần dư thừa sẽ gây hại là cholesterol toàn phần, LDL-Cholesterol và triglyceride; chỉ có một thành phần giúp bảo vệ là HD- cholesterol.

    Khi xem kết quả xét nghiệm cần lưu ý sự cân bằng giữa thành phần bảo vệ HDL-c và thành phần gây hại LDL-c. Nếu thành phần gây hại cao và thành phần bảo vệ thấp thì việc điều trị tình trạng rối loạn mỡ máu không thể chậm trễ. Khi có sự bất thường ở bất cứ thành phần mỡ máu nào thì đó đã là rối loạn mỡ máu. Ngoài ra, cũng cần lưu ý đến các yếu tố liên quan như: tuổi, bệnh tim mạch, cao huyết áp hay tiểu đường đi kèm…

    Một thực tế là nhiều người không ăn mỡ, trứng, người ăn chay trường lâu năm hoặc người gầy… vẫn bị rối loạn mỡ máu. Điều tưởng như vô lý này là do cholesterol có 2 nguồn gốc: từ thức ăn hàng ngày trong thịt, mỡ, trứng... chỉ chiếm 20% nhu cầu cholesterol trong cơ thể; còn lại, 80% lượng cholesterol là do gan tự tổng hợp từ đường, đạm. Khi cơ thể suy yếu, receptor tế bào giảm hoạt động gây hạn chế hấp thụ cholesterol. Vì thế, dù không ăn mỡ, nhiều người vẫn gặp phải rối loạn mỡ máu.

    chi-so-mo-mau-2-6530-1402043950.jpg
    Bảng phân tích trị số mỡ máu dùng để đối chiếu, đánh giá về tình trạng bệnh.
    Các nghiên cứu đã chứng minh, giải quyết được rối loạn mỡ trong máu là cần thiết để hạn chế tai biến mạch vành tim, tai biến mạch máu não và giảm tỷ lệ tử vong do biến chứng mạch máu.

    iframe: approve:
    • 2,487 Bài viết

    • 0 Được cảm ơn

    #502
    MEN GAN CAO NÊN ĂN GI ?
    Gan đảm nhận nhiều chức năng vô cùng quan trọng trong cơ thể người : tiêu hóa, chuyển hóa, giải độc và đông máu. Sỡ dĩ gan có thể đảm nhận nhiều vai trò như vậy là nhờ ở gan có một hệ enzym (men) đa dạng và phức tạp, mỗi loại enzyme (men) đặc hiệu cho 1 vai trò nào đó. Enzyme gan là một loại protein giúp thúc đẩy một phản ứng sinh hóa đặc hiệu nào đó. Tăng men gan là một dấu hiệu của sự rối loạn ở gan và cần được theo dõi điều trị. Có thể là việc dùng thuốc hay 1 bệnh nào đó cũng gây nên triệu chứng tăng men gan

    “Làm sạch gan”
    Có nghĩa là ăn uống để cân bằng lượng men gan và bảo vệ chức năng gan. Hãy giảm các loại thức ăn đóng hộp có chứa nhiều đường như nước ngọt, bánh mì trắng, bánh ngọt. Hạn chế lượng chất béo bão hòa từ các món chiên xào, dầu mỡ động vật … cũng giúp công việc của gan được “nhẹ nhàng” hơn.

    lam-sach-gan
    Tỏi – chứa nhiều chất chống oxi hóa tên là Allicin giúp giảm lượng chất độc hại tích tụ trong gan

    Tăng lượng chất xơ trong bữa ăn và đừng quên dùng Tỏi – chứa nhiều chất chống oxi hóa tên là Allicin giúp giảm lượng chất độc hại tích tụ trong gan. Những món ăn chứa nhiều vitamin B như trứng, bông cải, rau bina rất có lợi cho một lá gan khỏe. Nên uống nhiều nước để giúp dễ tống chất độc ra khỏi gan.

    Tránh xa thức ăn “độc”
    Gan được xem như là màng lọc chất độc cho cơ thể. Mỗi phút, lượng máu được lọc qua gan là 1.4 lít. Nếu trong máu chứa nhiều chất kháng sinh và hormone sẽ khiến gan phải làm việc “cực nhọc” hơn để lọc các độc tố đó ra khỏi máu. Để giảm tải cho gan, nên quan tâm kĩ đến nguồn gốc các loại thực phẩm mà bạn sử dụng. Các chất kháng sinh thường được thêm vào trong thức ăn chăn nuôi gà, heo, bò nên các loại thịt này , thậm chí cả sữa, cũng chứa hàm lượng kháng sinh rất cao. Sữa đậu nành là 1 giải pháp thay thế an toàn mà lại bổ dưỡng.

    can-tranh-thuc-an-co-hai-cho-gan
    Hãy uống nước ép
    Nước ép trái cây vừa giúp giữ dáng lại còn có tác dụng tăng cường sức khỏe cho gan vì tác động giải độc hỗ trợ cho chức năng gan. Nước ép chứa nhiều vitamin, khoáng chất và chất chống oxi hóa – làm giảm nguy cơ viêm nhiễm ở gan và tăng sức đề kháng cho gan. Nước ép táo là 1 ví dụ điển hình, chứa nhiều pectin nên giúp loại bỏ các kim loại nặng trong đường ruột và gan. Nước ép dưa leo lại tạo ra sự cân bằng pH nội sinh và giúp thanh lọc thân nhiệt.

    iframe: approve:
    • 2,487 Bài viết

    • 0 Được cảm ơn

    #503
    không chỉ của người say
    Cập nhật : 07:00 | 16/10/2013
    Men gan cao thường gặp ở những người uống nhiều rượu bia khiến dễ lầm tưởng nguyên nhân gây tăng men gan chỉ có bia rượu. Nhưng trong thực tế, men gan cao có thể gặp ở cả những người không hề uống rượu bia.

    Ai dễ bị tăng men gan?

    Bình thường, men gan nằm trong tế bào gan và thoát ra ngoài đi vào máu khiến men gan tăng cao khi có tổn thương tế bào gan. Dưới đây là 3 đối tượng dễ bị tăng men gan:
    men gan cao, báo động, người say, chức năng, suy giảm, tế bào, thảo dược

    Người uống nhiều bia rượu: Nếu uống bia rượu ít, không liên tục, gan có đủ khả năng và thời gian để hoá giải chất độc này. Nhưng nếu uống quá nhiều và liên tục, lượng men gan không đủ để tham gia vào quá trình giải độc rượu. Lúc này chất aldehyd - độc chất được tạo ra từ rượu sẽ trực tiếp phá huỷ tế bào gan dẫn đến tăng men gan.

    Người nhiễm virus gây viêm gan: Trong các loại viêm gan do virus (A, B, C, D, E), viêm gan B là phổ biến nhất. Khi virus xâm nhập vào tế bào gan, chúng sẽ phá hủy các tế bào gan, khiến lượng men gan trong máu tăng cao.

    Người mắc các bệnh mạn tính phải sử dụng thuốc điều trị chuyên khoa dài ngày, người mắc các bệnh về đường mật như viêm đường mật, viêm túi mật, sỏi đường mật trong gan cũng khiến men gan tăng cao.

    Gương phản chiếu tình trạng tế bào gan

    Trong các chỉ số men gan, AST (SGOT) và ALT (SGPT) là hai chỉ số chính giúp phản ánh tình trạng của tế bào gan. Hàng ngày, một số tế bào gan chết đi do quá trình lão hóa sẽ phóng thích vào máu một lượng men gan ở nồng độ dưới 40 U/L.

    Nếu men gan tăng từ 1-2 lần so với mức cho phép là mức độ nhẹ, tăng từ 2-5 lần là mức độ trung bình, tăng trên 5 lần giới hạn bình thường là mức độ nặng. Trong các trường hợp viêm gan cấp tính, men gan có thể tăng từ 10-20 lần.

    Men gan cao ban đầu phần lớn thường không có triệu chứng. Nếu tình cờ phát hiện men gan trong máu tăng cao, đặc biệt là tăng gấp đôi chỉ số bình thường trở lên thì trước hết, cần xác định rõ nguyên nhân gây tăng men gan để điều trị kịp thời trước khi dẫn đến các biến chứng nguy hiểm.

    3 bí quyết hỗ trợ hạ men gan

    Nói không với rượu, bia và các chất kích thích: Rượu bia, đồ uống có chứa cồn… là những thức uống gây hại cho gan. Bạn cần tránh xa chúng để tránh “rước họa” cho lá gan của mình.

    Chế độ ăn uống và sinh hoạt điều độ: Chế độ dinh dưỡng cân bằng, sinh hoạt và nghỉ ngơi hợp lý giúp cho tế bào gan phục hồi, thúc đẩy quá trình hồi phục chức năng gan, hạ men gan. Cần hạn chế ăn mỡ động vật, các món ăn chiên rán, các đồ ăn chế biến sẵn có chứa chất bảo quản. Tránh thức khuya và làm việc quá sức.

    Làm bạn với thảo dược thiên nhiên

    iframe: approve:
    • 2,487 Bài viết

    • 0 Được cảm ơn

    #504
    các nhà khoa học thuộc ĐH California (Mỹ) cho biết rằng lượng mỡ tích trữ ở vòng 3 làm gia tăng nồng độ của 2 loại protein có thể gây viêm và kháng insulin – yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh tim và tiểu đường. Và lượng mỡ dư thừa dù ở bất cứ nơi nào trên cơ thể cũng không tốt.
    Sức khỏe, béo, giảm cân, giảm mỡ bụng, mỡ bụng, mẹo giảm cân nhanh, giảm mỡ bụng nhanh, eo thon, dáng đẹp

    iframe: approve:
    • 2,487 Bài viết

    • 0 Được cảm ơn

    #505
    I. Máu nhiễm mỡ và cách phòng ngừa đơn giản.

    Nói đến máu nhiễm mỡ nhiều người sẽ nghĩ chỉ những người béo, thừa cân, người cao tuổi mới mắc phải nhưng thực tế ngay cả người gầy, trẻ tuổi cũng có nguy cơ mắc máu nhiễm mỡ rất cao, vậy nguyên nhân của căn bệnh này là do đâu? Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, nguyên nhân máu nhiễm mỡ là do di truyền, yếu tố gia đình, chế độ ăn uống không điều độ, ăn nhiều đạm động vật, chất béo bão hòa, nhiều đường bột, ăn ít hoa quả và lười vận động, nhất là dân trí thức, văn phòng. máu nhiễm mỡ Cứ tưởng mình gầy gò thì không phải lo đến mấy cái bệnh của người béo, nhiều người không tin được khi bác sĩ bảo họ bị gan nhiễm mỡ, máu nhiễm mỡ. Hoa tam thất, hoa hòe, cúc hoa (mỗi vị 10g). Từ đó đến nay, mỗi lần nhà có công việc hay dịp lễ tết anh vẫn có thể ngồi ăn uống bình thường với bạn bè, anh em mà không cần lo lắng đến bệnh tật trước đây.

    Mạch máu dẫn đến cơ quan nào không được lưu thông cơ quan đó hoạt động kém hơn. Điều tưởng như vô lý này là do cholesterol có 2 nguồn gốc: từ thức ăn hàng ngày trong thịt, mỡ, trứng. PN - Trong máu luôn có một lượng mỡ, lượng đường nhất định. Nhất là với những trường hợp có nguy cơ cao huyết áp, tăng mỡ bụng, HDL thấp (cholesterol tốt), và đường huyết cao. Chúng tích tụ dưới da khiến da bị chảy xệ và có mặt ở khắp các vùng trên cơ thể.

    iframe: approve:
    • 2,487 Bài viết

    • 0 Được cảm ơn

    #506
    7 dấu hiệu nhận biết gan không khỏe mạnh
    Gan là cơ quan nội tạng quan trọng nhất của cơ thể. Nếu chức năng gan hoạt động không tốt chứng tỏ gan không khỏe mạnh.
    Gan không khỏe mạnh sẽ khiến cơ thể sẽ mắc rất nhiều bệnh. Một số triệu chứng của tổn thương gan mà bạn cần lưu ý.

    1. Hơi thở "có mùi"
    Có thể chưa bao giờ bạn nghĩ rằng hơi thở "có mùi" lại có thể là một dấu hiệu của tổn thương gan. Nếu gan của bạn không hoạt động tốt thì miệng thường có mùi. Tình trạng này là do cơ thể sản sinh quá nhiều ammonia.

    2. Quầng thâm quanh mắt và mỏi mắt

    Chức năng gan bị tổn thương có thể liên quan với tổn thương da và mệt mỏi ở mắt. Da dưới mắt cũng phản ánh tình trạng sức khỏe của con người. Nếu bạn thấy rất khó để khỏi quầng thâm mắt và mỏi mắt thì hãy đi khám bác sĩ ngay. Đó có thể là một dấu hiệu của tổn thương gan.



    Ảnh minh họa

    3. Các vấn đề nghiêm trọng về tiêu hóa

    Nếu gan chứa nhiều chất béo, bạn sẽ không thể tiêu hóa cả nước. Tuy nhiên, các vấn đề về tiêu hóa ở mức nhẹ song xảy ra trong khoảng thời gan đều đặt thì cũng có thể là chỉ báo cho thấy gan bị tổn thương.

    4. Thay đổi về màu da

    Những thay đổi ở màu da có thể xảy ra là do tổn thương gan. Những đốm trắng trên da có thể xuất hiện khi chức năng gan hoạt động không tốt.

    5. Phân và nước tiểu màu ngăm đen

    Những người có các vấn đề về mất nước thường có phân và nước tiểu màu nâu sậm. Ngoài triệu chứng của mất nước thì hiện tượng này cũng là chỉ báo về chức năng gan hoạt động không tốt.

    6. Mắt và móng tay bị vàng

    Khi màu trắng của mắt và của móng tay ngả sang màu vàng thì bạn nên đi khám bác sỹ ngay để được chữa trị kịp thời.

    7. Trướng bụng

    Gan sẽ to lên do nhiễm trùng hoặc tổn thương gan. Nếu bệnh tình không được điều trị, dạ dày của bạn cũng sẽ phình lên.

    Để giúp gan khỏe mạnh, bạn nên tránh các thói quen ăn uống không lành mạnh, đặc biệt là những thức ăn chứa nhiều chất béo. Ngoài ra, bạn nên uống nhiều nước và ăn những thức ăn tốt cho sức khỏe như rau và trái cây.

    iframe: approve:
    • 2,487 Bài viết

    • 0 Được cảm ơn

    #507
    Nguy hại khôn lường khi dùng nịt bụng để giảm mỡ bụng

    Gen nịt bụng sẽ giảm eo?
    Gen bụng là cách sử dụng miếng gen hoặc khăn quấn chặt vào bụng để tạo thành áp lực vật lý khiến vòng bụng của người phụ nữ (đặc biệt là sau sinh) nhỏ và săn chắc hơn.

    Nắm được tâm lý của nhiều chị em muốn có vóc dáng thon gọn, bụng săn chắc, trên thị trường hiện nay có rất nhiều loại đai nịt bụng, gồm loại bình thường và bằng điện. Trong đó phải kể đến loại dây đai nịt bụng hương quế, được quảng cáo rất nhiều trên mạng với công dụng “thần kỳ”.

    Tuy nhiên, sau khi sử dụng loại sản phẩm này, không ít chị em lại phải đối mặt với tình trạng ngứa, mẩn đỏ, đau tức bụng…

    Chị Thanh Lan, trú tại phường Trung Hòa (Quận Cầu Giấy, Hà Nội) cho biết: “Sau khi sinh, tôi rất béo, vòng bụng 98cm. Đọc trên mạng thấy nhiều người giới thiệu là dùng đai nịt bụng hương quế có thành phần tinh dầu quế, chịu khó đeo sẽ tiêu mỡ, nhanh chóng thu hẹp vòng bụng nên tôi đã bỏ ra ngay 200.000đ để mua. Vậy nhưng khi dùng thì rất khó chịu, mỗi ngày tôi chỉ đeo có 2 tiếng mà thấy người mẩn hết cả lên. Đã thế, bé nhà tôi gần 2 tháng tuổi có vẻ dị ứng với mùi quế mặc dù tôi sau khi nịt bụng đã tắm sạch mà cháu vẫn không chịu ti mẹ. Thế nên tôi chỉ dùng 1 tuần rồi ngừng, vòng eo vẫn giữ nguyên, chẳng giảm được cm nào”.

    Không giống chị Lan, trường hợp chị Mai (36 tuổi, ở phường Xuân La, quận Tây Hồ, Hà Nội) có 2 con đã lớn, vóc dáng cao ráo, duy chỉ có vòng bụng là to. Nghe cô bạn cùng phòng khuyên dùng đai nịt bụng bằng điện có chế độ massage sẽ giảm mỡ bụng. Ngày nào chị cũng chịu khó nịt, mỗi lần 4 tiếng sau khi ăn 1 giờ. Tuy nhiên, 1 tháng sau chị theo dõi vòng eo của mình chị Mai thấy “vẫn y nguyên”, chưa kể chị thấy mình thường xuyên bị đau tức vùng bụng và đau cả vùng thắt lưng.

    Sự thật về gen nịt bụng
    Theo như hướng dẫn của các nhà sản xuất gen nịt bụng, để việc giảm vòng bụng hiệu quả, mỗi người nên đeo đai nịt bụng càng nhiều thời gian càng tốt.

    Tuy nhiên, thực tế cho thấy, gen nịt bụng được làm từ chất liệu co giãn, khi sử dụng sẽ khiến cơ thể bạn vô cùng khó chịu vì chúng bó sát vào cơ thể. Nếu phải đeo chúng quá nhiều, kể cả khi đi ngủ thì quả là rất khó.

    Theo các chuyên gia y tế, việc ép mình trong những chiếc nịt bụng có thể gây nên các vấn đề cơ học tại dạ dày, điển hình là chứng trào ngược dạ dày – thực quản. Nguyên nhân là do áp lực của chiếc nịt bụng này tác động lên bụng và dạ dày quá lớn, khiến cho những đồ ăn chứa trong dạ dày có nguy cơ trào ngược lên thực quản. Điều này có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các cơ quan khác trong đường tiêu hóa.

    Ngoài ra, đối với những phụ nữ mới sinh con, cơ thể người mẹ vẫn còn chưa hồi phục hoàn toàn. Vì vậy, trong thời gian này chị em nên giữ sức khỏe, ăn uống đủ chất. Chị em không nên vì quá nóng vội muốn lấy lại vóc dáng mà gen bụng quá sớm. Vì nếu gen bụng quá sớm thì có thể gây ra những tác động như tức bụng, khó thở, cản trở tuần hoàn khiến máu lưu thông không tốt, chưa kể ảnh hưởng đến vết mổ chưa lành hẳn hoàn toàn… sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và sự hồi phục của cơ thể.

    Riêng về nịt bụng hương quế, ThS.BS Vũ Phương Ngọc (Bệnh viện Y học cổ truyền) cho rằng, do tính chất của quế là nóng, ấm, nên nịt bụng hương quế phù hợp với người có cơ địa hàn, còn cơ địa nóng thì không nên dùng.

    Cũng theo bác sĩ Ngọc, chị em sau sinh đang cho con bú không nên tự dùng tinh dầu quế để thoa bụng hoặc tẩm vào dây đai như một số sản phẩm nịt bụng quế chỉ dẫn trên các trang mạng. Bởi tinh dầu quế rất nóng, nếu bôi quá nhiều sẽ gây đỏ phỏng da, không cẩn thận dây tinh dầu vào mắt, mũi, miệng của trẻ thì rất nguy hiểm có thể gây lở loét da của em bé, ỏng giác mạc, mù lòa…

    Cũng chia sẻ về việc nên hay không sử dụng nịt bụng hương quế sau sinh, bác sĩ Nguyễn Thu Ngân, (Bệnh viện phụ sản Hà Nội) cho hay: Sau khi phụ nữ sinh con, 6 tuần sau các cơ quan sinh dục mới trở về bình thường nên trong vòng 6 tuần sau sinh, nếu sản phụ chườm nóng, dùng nịt bụng quế sẽ làm tử cung không co lại được gây băng huyết, điều này rất nguy hiểm.

    Ngoài ra, phụ nữ có thai không được dùng sản phẩm này. Phụ nữ sinh mổ sau 2 tháng mới được dùng, khi dùng cần lót một lớp vải mỏng, tránh tiếp xúc trực tiếp lên da, tốt nhất nên đợi lành vết thương rồi hãy nịt. Bên cạnh đó, các chị em không nên thắt đai liên tục mỗi ngày, chỉ nên nịt một vài tiếng đồng hồ, lúc ngủ nên tháo ra, thắt đai ở mức độ dễ chịu. Nếu thắt quá chặt sẽ gây cản trở lưu thông máu, thâm da, gây nóng, mụn nhọt lở loét.

    Thực tế cho thấy, các ngôi sao thường chia sẻ bí quyết để có được vòng eo đẹp như trước sinh là nhờ các cô chăm chỉ nịt bụng sau sinh. Nhưng sự thật thì với họ đây chỉ là một cách nhỏ trong nhiều cách họ đã kết hợp và kiên trì luyện tập. Gen bụng chỉ có công dụng nén tạm thời chất béo và da xung quanh vùng bụng chứ không giúp bụng thon gọn. Chị em muốn có vòng hai đẹp, nhỏ và săn chắc lại thì cần tập thể dục đều đặn với những bài tập vùng bụng và có chế độ ăn uống ít chất béo, giảm ngọt, uống nhiều nước. Bên cạnh đó, việc cho con bú hoàn toàn bằng sữa mẹ rất tốt cho con, lại giúp bạn giảm vòng 2 rất nhanh và hiệu quả.

    Theo Báo Gia đình và Xã hội

    iframe: approve:
    • 2,487 Bài viết

    • 0 Được cảm ơn

    #508
    Infectious disease mortality depends strongly on cholesterol levels

    By far the strongest dependence of mortality on cholesterol levels is found for infectious diseases. Infectious disease mortality is shown by the dashed green curve.
    Infectious disease mortality approaches zero where TC averages between 215 and 245 mg/dl. It rises very sharply as TC falls. Over a wide range of TC, for every 10 mg/dl drop in average TC, mortality rises by 200 infectious deaths per year per 100,000 population.
    Other diseases are partly infectious in origin

    As regular readers know, I believe that many other “noncommunicable” diseases are actually caused in part by chronic infections. Cardiovascular disease is one – atherosclerotic lesions are universally found to be infected, macrophages usually need to be infected in order to become “foam cells” which contribute to atherosclerotic plaque formation, and the infectious burden in lesions drives the risk of fragmentation of plaque into the clots which cause heart attacks and strokes.
    If cardiovascular disease is partly due to infections, and the protective effect of cholesterol against infections is present here, then we should expect cardiovascular disease mortality (shown in the red dashed line) to rise as TC falls.
    It does. Mortality from cardiovascular disease starts rising as TC falls below 205 mg/dl and rises by about 200 infectious deaths per year per 100,000 population for every 25 mg/dl drop in average TC.
    Causality probably runs in both directions

    We can’t directly infer causality from these statistics. Consider two possible directions of causality:

    • Serum cholesterol – LDL and HDL – help defend against infections. As long as you have these infection-fighting lipids in your blood, infections can’t kill you.
    • Infections destroy LDL and HDL, and the more severe the infection, the lower blood cholesterol goes. By the time the infection is severe enough to kill you, TC is very low. So countries with high infectious burden have both low TC and high infectious mortality.

    The first line of causality is certainly true. I’ve already discussed the important infection-fighting properties of HDL – in fact I’ve argued that infection fighting, not cholesterol transport, is the primary function of HDL (See HDL and Immunity, April 12, 2011). As I’ll discuss, LDL also has immune functions.
    The second line of causality is also quite likely. Pathogens evolve ways to suppress immunity; that is what makes them effective pathogens. If LDL and HDL are crucial for immune defense, then pathogens will have found ways to destroy or damage them.
    In this series I would like to explore these interactions between blood lipids and infections a little more deeply. They may lead us to ways we can tweak our diet to improve our defenses against disease — or help doctors recognize under what circumstances taking statins will raise, not lower, cardiovascular disease risk.
    References

    [1] Matsuzaki M et al. Large scale cohort study of the relationship between serum cholesterol concentration and coronary events with low-dose simvastatin therapy in Japan

    iframe: approve:
    • 2,487 Bài viết

    • 0 Được cảm ơn

    #509
    To study the training effects of eight weeks of stair climbing on VO2MAX, blood lipids, and homocysteine in sedentary, but otherwise healthy young women.Methods: Fifteen women (mean (SD) age 18.8 (0.7) years) were randomly assigned to control (n  =  7) or stair climbing (n  =  8) groups. Stair climbing was progressively increased from one ascent a day in week 1 to five ascents a day in weeks 7 and 8. Training took place five days a week on a public access staircase (199 steps), at a stepping rate of 90 steps a minute. Each ascent took about two minutes to complete. Subjects agreed not to change their diet or lifestyle over the experimental period.Results: Relative to controls, the stair climbing group displayed a 17.1% increase in VO2MAXand a 7.7% reduction in low density lipoprotein cholesterol (p<0.05) over the training period. No change occurred in total cholesterol, high density lipoprotein cholesterol, triglycerides, or homocysteine.Conclusions: The study confirms that accumulating short bouts of stair climbing activity throughout the day can favourably alter important cardiovascular risk factors in previously sedentary young women. Such exercise may be easily incorporated into the working day and therefore should be promoted by public health guidelines.
    Physical activity is now well established as a key component in the maintenance of good health and disease prevention.1 Despite this, less than 20% of adults in most developed countries are sufficiently active to derive any discernible health and fitness benefits.2 Furthermore, it has been hypothesised that increasing physical activity in previously sedentary people may prove the most effective strategy for prevention of cardiovascular disease (CVD) on a population basis.3Current physical activity guidelines recommend that every adult should engage in 30 minutes or more of moderate intensity physical activity on most, preferably all, days of the week.4 One strategy advocated to meet this activity goal is to accumulate exercise in short bouts throughout the day. The efficacy of this approach has been shown experimentally using 10 minute bouts of activity.5 However, to date only one stair climbing study has shown that accumulating very short bouts of exercise lasting about two minutes can also confer health benefits.6 Some limitations of this study were that the cardiorespiratory adaptations noted were not determined using maximal oxygen consumption (VO2MAX), and the other CVD risk factors measured were restricted to total cholesterol (TC) and high density lipoprotein cholesterol (HDL-C).Therefore the purpose of this study was to: (a) determine if the previously reported cardiorespiratory adaptations6 to accumulated bouts of stair climbing could be replicated using direct measurement of VO2MAX; (b) investigate the effects of accumulated bouts of stair climbing on a wider spectrum of CVD risk factors including, TC, HDL-C, low density lipoprotein cholesterol (LDL-C), triglycerides, and homocysteine.
    METHODS



    iframe: approve:
    • 2,487 Bài viết

    • 0 Được cảm ơn

    #510
    Venous blood samples (10 ml) were obtained from an antecubital vein, after a 12 hour overnight fast, with subjects in a seated position and rested for five minutes. Post-intervention samples were obtained 60 hours after the last stair climb to control for any possible transient effects of physical activity on blood lipid concentrations.9 On the day of their pre-intervention blood samples, all subjects were asked to complete a form indicating the stage of their menstrual cycle. Post-intervention blood samples were scheduled for the same stage of each subject’s menstrual cycle, to minimise the potential effects of endogenous hormones on blood lipid concentrations.Serum TC, triglycerides, and HDL-C were analysed using a Vitros 950 IRC automated analyser (Johnson and Johnson, New Brunswick, New Jersey, USA). The concentration of LDL-C was calculated using the Friedwald formula.10 Total homocysteine was determined by high performance liquid chromatography by previously described methods.11 All samples were assayed in the same batch, within a laboratory subject to external quality control (United Kingdom National Quality Assurance Scheme).Exercise prescription

    Subjects allocated to the exercise group embarked on an eight week progressive stair climbing programme. The programme began with two bouts of stair climbing five days a week in weeks 1 and 2, increasing by one climb a day every two weeks. By the last two weeks (7 and 8) of the study, all subjects were completing five bouts of stair climbing five days a week. Subjects climbed in a public access staircase, which consisted of 199 steps with a total vertical displacement of 32.8 m. The prescribed exercise intensity involved climbing the eight flights of stairs at a comfortable but brisk rate (90 steps a minute), determined previously in a stair climbing intervention using these facilities,6 and to descend thereafter at their own pace.Training logs were kept by all subjects to document the completion of each stair climb. Each bout of stair climbing was integrated into the working day at the convenience of the subject, with a minimum of one hour between climbs. To encourage compliance with the programme and the prescribed intensity of exercise, all stair climbers had supervised sessions once a week. This was supplemented by regular telephone calls, and all subjects were also provided with contact numbers to call if they needed help or information.Statistical analysis

    Changes over time were adopted as a summary measure of the response over time for each subject.12,13 Mean changes were compared using an unpaired t test to identify differences in response between groups. The 0.05 level was used as the criterion for statistical significance. The results are given as mean (SD).

    RESULTS

    Baseline characteristics of the subjects

    Table 1 presents the subjects’ characteristics at baseline. There were no significant differences between groups for any variable.


    iframe: approve:

LinkBacks Enabled by vBSEO