những điều cần biết về an cung ngưu hoàng hoàn

    • 9 Bài viết

    • 0 Được cảm ơn

    #1

    An cung ngưu hoàng hoàn
    An cung ngưu hoàng hoàn là một bài thuốc cổ nổi tiếng, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, trấn kinh khai khiếu, trừ đàm, chuyên trị ôn nhiệt bệnh, nhiệt tà nội hãm tâm bào, trúng phong, kinh quyết do đàm nhiệt nội bế... Gần đây, kết quả của nhiều công trình nghiên cứu hiện đại cho thấy bài thuốc này có tác dụng trị liệu nhiều bệnh lý cấp tính, đặc biệt là đột quỵ não. Tuy nhiên trên thực tế lâm sàng, những thông tin về An cung ngưu hoàng hoàn còn hết sức hạn chế. Bởi vậy, việc nắm vững công dụng, chỉ định, liều lượng và cách dùng An cung ngưu hoàng hoàn là rất cần thiết.
    Khoảng chục năm gần đây, khi bệnh lý tai biến mạch máu não (thuộc phạm vi chứng trúng phong của y học cổ truyền) có xu hướng ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp thì nhu cầu tìm hiểu và sử dụng các thành phẩm đông dược càng trở nên hết sức cần thiết. Nhiều chế phẩm trị liệu chứng trúng phong do các công ty dược phẩm Trung Quốc sản xuất như Chí bảo đan, Ngưu hoàng thanh tâm hoàn, Hoa Đà tái tạo hoàn, Nhân sâm tái tạo hoàn, Đại lạc hoạt đan... đã có mặt trên thị trường đông dược nước ta bằng nhiều con đường khác nhau. Trong số các chế phẩm này, có một loại thuốc nổi tiếng nhưng khá đắt là An cung ngưu hoàng hoàn (ACNHH). Tuy nhiên, trên thực tế lâm sàng, vì nhiều lý do khác nhau, việc nắm vững công dụng, chỉ định và cách dùng cụ thể chế phẩm này vẫn còn không ít khiếm khuyết.

    Trên cơ sở tổng hợp các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước, kết hợp với kinh nghiệm tiễn, chúng tôi cung cấp một số kiến thức cần thiết về an cung ngưu hoàng hoàn để bạn đọc tham khảo và có thể vận dụng khi cần thiết.

    1. Nguồn gốc.

    ACNHH là phương thuốc do danh y Ngô Đường, tự Cúc Thông, đời nhà Thanh (Trung Quốc), đại biểu trọng yếu của học phái ôn bệnh, sáng chế. Bài thuốc được ghi trong sách Ôn bệnh điều biện nổi tiếng của ông.

    2. Thành phần.

    Bài thuốc ACNHH có các thành phần gồm: ngưu hoàng (1 lạng), uất kim (1 lạng), tê giác (1 lạng), hoàng cầm (1 lạng), hoàng liên (1 lạng), hùng hoàng (1 lạng), sơn chi (1 lạng), chu sa (1 lạng), mai phiến (2 tiền 5 phân), xạ hương (2 tiền 5 phân), trân châu (5 tiền). Tất cả các vị thuốc được tán mịn, dùng mật làm hoàn, mỗi hoàn 1 tiền, lấy vàng lá làm áo, bao sáp. Hiện nay, vì tê giác rất hiếm nên vị này được thay bằng thủy ngưu giác (sừng trâu nước).

    3. Công dụng và chủ trị.
    An cung ngưu hoàng hoàn có công dụng thanh nhiệt giải độc, trấn kinh khai khiếu, dục đàm; chuyên trị ôn nhiệt bệnh, nhiệt tà nội hãm tâm bào, đàm nhiệt ủng bế tâm khiếu dẫn đến sốt cao phiền táo, thần hôn thiềm ngữ (hôn mê, rối loạn ngôn ngữ) hoặc thiệt kiển chi quyết (lưỡi rụt, tay chân giá lạnh), trúng phong khiếu bế, tiểu nhi kinh quyết thuộc đàm nhiệt nội bế.
    ACNHH cùng với Chí bảo đan và Tử tuyết đan là 3 phương thuốc lương khai trọng yếu (lương khai tam bảo hay ôn bệnh tam bảo), và là một trong những dược vật cấp cứu hữu hiệu của y học cổ truyền. “Cung” là chỉ tâm bào (tâm bào là cái màng ở ngoài bọc lấy tim); ôn nhiệt độc tà nội hãm khi xâm phạm vào tâm, trước hết sẽ tác động đến tâm bào. Nếu nhiệt tà quá thịnh sẽ làm nhiễu loạn thần minh mà dẫn đến tình trạng thần hôn thiềm ngữ. ACNHH có đủ khả năng thanh hóa đàm nhiệt nội hãm tâm bào; nhiệt thanh đàm hóa thì tâm thần tất an, vì thế mà gọi là “an cung”. Ngô Cúc Thông đã viết: “Lấy tính cay thơm để trừ uế trọc mà khai các khiếu, lấy tính mặn lạnh để bảo vệ thận thủy, lấy tính đắng lạnh để trừ nhiệt ở tạng tâm, chuyên dùng để trị chứng nhiệt ở tâm bào lạc, hôn mê, rối loạn ngôn ngữ, trẻ em sốt cao co giật”.

    Trong phương, ngưu hoàng, tê giác và xạ hương có công dụng thanh tâm tả hỏa, giải độc, dục đàm khai khiếu, tức phong định kính, là quân dược; hoàng cầm, hoàng liên, sơn chi thanh nhiệt tả hỏa, giải độc; uất kim tán tà hỏa; mai phiến phương hương khứ uế, thông khai bế; chu sa, trân châu và vàng lá trấn tâm an thần; mật ong hòa vị điều trung.

    4. Một số nghiên cứu dược lý về ACNHH

    4.1. Tác dụng trấn tĩnh, chống co giật:

    Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, ACNHH và các chế phẩm có nguồn gốc từ phương thuốc này như Ngưu hoàng tỉnh não chú xạ dịch, Ngưu hoàng thanh não hoàn, An não ngưu hoàng hoàn… khi cho chuột uống hoặc tiêm vào ổ bụng chuột đều làm chúng giảm thiểu hoạt động tự chủ, xuất hiện hiện tượng yên tĩnh, làm tăng tác dụng ức chế hệ thống thần kinh trung ương, kéo dài tác dụng gây ngủ của Pentobarbital và Pentothal.

    ACNHH còn chống tác dụng hưng phấn, gây co giật của Amphetamin và làm giảm tỉ lệ tử vong do thuốc này gây nên. Điều này chứng tỏ ACNHH có tác dụng ức chế không đặc hiệu đối với vỏ não và có khả năng bảo vệ nhất định đối với các trung khu quan trọng đối với sinh mệnh của đại não.

    4.2. Tác dụng hồi tỉnh:

    Khi tiêm vào ổ bụng chuột bạch 0,8-1 ml Thanh khai chú xạ dịch liên tục trong 5 ngày, thấy hoạt tính của acetylcholin esterase trong nhân lục (locus cerulerus) gia tăng, chứng tỏ hoạt tính của acetylcholin trong nhân lục có thể kích phát hoạt tính của catecholamine trong các neuron, làm hồi phục công năng hướng tâm của cấu trúc lưới trong chất não, từ đó đạt được tác dụng hồi tỉnh. Nghiên cứu thực nghiệm cũng đã chứng minh tác dụng bảo vệ tế bào gan khỏi sự tác động bất lợi của carbon tetrachloride, làm hồi tỉnh hôn mê gan do nhiễm độc.

    4.3. Tác dụng giải nhiệt:

    Nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh ACNHH có tác dụng làm hạ thấp thân nhiệt của thỏ được gây sốt bằng độc tố vi khuẩn (tác dụng kéo dài 5-6 giờ, so với nhóm chứng có sự khác biệt rõ rệt với p < 0,001). Nhiều nghiên cứu cũng đã chứng minh tác dụng giải nhiệt của ACNHH trong các trường hợp sốt do tiêm vacxin tam liên. Thông thường, sau khi tiêm vacxin chừng 60 phút, thân nhiệt tăng cao, dùng ACNHH có thể làm cho thân nhiệt giảm rất nhanh.

    4.4. Tác dụng chống viêm tiêu thũng:

    An cung ngưu hoàng hoàn có tác dụng rõ rệt đối với tình trạng viêm nề khớp ở chuột. Tác dụng này đạt hiệu quả cao nhất sau khi uống thuốc từ 1-4,5 giờ. Trên mô hình gây viêm tai chuột bằng dinathylbenzene, ACNHH tỏ ra có tác dụng ức chế rõ rệt quá trình viêm. ACNHH còn có tác dụng kích thích khả năng thực bào của đại thực bào, làm tăng chỉ số và tỉ lệ thực bào, làm cho đại thực bào to ra và gia tăng số lượng các túi thực bào.

    4.5. Tác dụng đối với hệ tim mạch:

    Trên động vật thí nghiệm, ACNHH có tác dụng làm hạ huyết áp từ 5,4-7,5 kPa. Trên tim thỏ cô lập, ACNHH có khả năng ức chế sức co bóp cơ tim và làm giảm tần số tim. Trên chó gây mê, ACNHH làm chậm nhịp tim, hạ huyết áp nhưng lưu lượng động mạch vành và sức bóp cơ tim lại gia tăng. Như vậy, ACNHH có khả năng cải thiện công năng tim. Ngoài ra, ACNHH còn có tác dụng làm giảm lượng oxy tiêu thụ ở cơ tim, kéo dài thời gian sống của động vật thí nghiệm trong điều kiện thiếu oxy.

    4.6. Ảnh hưởng đối với LDH:

    Nghiên cứu sử dụng hỗn dịch gồm nội độc tố trực khuẩn ho gà và nội độc tố trực khuẩn E. coli gây cảm nhiễm thực nghiệm bằng cách tiêm vào tĩnh mạch tai thỏ. Sau đó, kiểm tra hàm lượng chất LDH (lactic dehydrogenase) trong dịch não tủy thỏ. Kết quả cho thấy: ở nhóm dùng ACNHH, hàm lượng LDH giảm rõ rệt so với nhóm chứng không dùng ACNHH (p < 0,001), điều này chứng tỏ ACNHH có tác dụng bảo vệ tế bào não ở một mức độ nhất định. Nghiên cứu cũng cho thấy, sau khi gây cảm nhiễm 16 giờ, hoạt tính của LDH trong dịch não tủy và chất não thỏ ở nhóm chứng thì gia tăng và ở nhóm nghiên cứu thì không có biến đổi rõ rệt.

    Một số nghiên cứu về tác dụng của các chế phẩm có nguồn gốc từ ACNHH cũng có tác dụng tương tự ACNHH nhưng ở các mức độ khác nhau. Và trong thành phần ACNHH, nếu thay tê giác bằng thủy ngưu giác thì công năng cũng thay đổi không đáng kể.

    5. Ứng dụng lâm sàng.
    Trong vài chục năm gần đây, các nhà y học cổ truyền, đặc biệt là ở Trung Quốc, đã ứng dụng ACNHH trong trị liệu nhiều bệnh lý cấp tính và thu được những kết quả rất đáng chú ý. Đồng thời, phương thuốc này cũng được nghiên cứu bào chế thành những dạng dùng mới cho phù hợp với thực tiễn lâm sàng hiện đại như: Tỉnh não tĩnh chú xạ dịch, Ngưu hoàng tỉnh não chú xạ dịch, Thanh khai linh chú xạ dịch, Thanh nhiệt an cung hoàn, An não ngưu hoàng hoàn, Ngưu hoàng thanh não phiến...

    5.1. Nội khoa:

    - Trúng phong: ACNHH được dùng trong giai đoạn cấp tính với trúng phong bế chứng thuộc thể đàm nhiệt nội bế thanh khiếu. Thuốc có tác dụng cải thiện rõ rệt triệu chứng, làm giảm tỉ lệ tử vong và rút ngắn giai đoạn cấp tính. Một nghiên cứu trị liệu 53 bệnh nhân (BN) trúng phong tạng phủ có hôn mê, sốt cao, kích động… bằng cách lấy 1 viên ACNHH hòa tan trong 20 ml nước, thụt giữ ở đại tràng mỗi 6 giờ 1 lần, khi có hiệu quả chuyển 12 giờ 1 lần, liệu trình điều trị 7 ngày, đạt hiệu quả tốt 68%, khá 32%. Một nghiên cứu dùng ACNHH mỗi lần 1 viên, hòa tan bơm qua sonde dạ dày mỗi ngày 2 lần (thể dương bế thì gia Linh dương giác thang hoặc Trấn can tức phong thang, thể âm bế thì gia Điệu đàm thang), đạt hiệu quả 85,7%. Một nghiên cứu khác dùng ACNHH dưới dạng viên đạn đặt hậu môn ở 12 trường hợp sau khi đã thụt tháo, mỗi lần 1 viên, mỗi ngày 1-2 lần, đạt hiệu quả 83%.

    Hiệp hội chẩn trị trúng phong cấp tính Trung Quốc dùng 40-60 ml Thanh khai linh chú xạ dịch pha với 500 ml thanh huyết ngọt 10% truyền nhỏ giọt tĩnh mạch, trị liệu cho 111 BN nhồi máu não và 23 BN xuất huyết não; nhóm đối chứng có 32 BN dùng 200 ml dung dịch Nicotinic acid pha với 500 ml huyết thanh ngọt 10% truyền tĩnh mạch. Cả 2 nhóm dùng thuốc mỗi ngày 1 lần, liên tục trong 28 ngày. Kết quả: nhóm dùng Thanh khai linh chú xạ dịch đạt hiệu quả 81,1% với BN nhồi máu não (nhóm đối chứng đạt 50%, p < 0,01) và hiệu quả 91,3% với BN xuất huyết não. Một nghiên cứu dùng Ngưu hoàng tỉnh não chú xạ dịch truyền tĩnh mạch trị liệu 62 BN, đạt hiệu quả 98,38%. Một nghiên cứu khác dùng Thanh khai linh chú xạ dịch truyền tĩnh mạch trị liệu 50 BN, liên tục trong 14 ngày, đạt hiệu quả 80%.

    - Viêm não Nhật Bản B: các tác giả đều cho rằng ACNHH có tác dụng thanh nhiệt giải độc, tiêu viêm, chống co giật, nếu dùng sớm có thể ức chế quá trình phát triển của bệnh. Một số nghiên cứu về tác dụng của ACNHH đối với viêm não Nhật Bản B:

    + Dùng ACNHH dạng viên đạn, đặt hậu môn 1 viên/lần (mỗi 6, 8 hoặc 12 giờ đặt 1 lần tùy mức độ bệnh), phối hợp với Chlorpromazine và Promethazine 25 mg pha trong NaCl 5% truyền tĩnh mạch chậm, khảo sát trên 180 BN, đạt hiệu quả 90,6%.

    + Dùng Thanh khai linh chú xạ dịch trị liệu 42 BN, nhóm đối chứng 16 BN dùng Ribavirin truyền tĩnh mạch. Kết quả: nhóm nghiên cứu đều khỏi bệnh với thời gian điều trị 8,14 ± 0,85 ngày; nhóm chứng khỏi 13 BN, đỡ nhiều 3 BN với thời gian điều trị 10,19 ± 0,54 ngày, sự khác biệt có ý nghĩa (p < 0,05).

    - Hôn mê gan: một nghiên cứu dùng ACNHH thụt giữ đại tràng kết hợp với bơm qua sonde dạ dày trị liệu 1 BN hôn mê gan, kết quả sau 11 ngày ý thức phục hồi, bệnh tình ổn định. Một nghiên cứu dùng ACNHH cấp cứu hôn mê gan, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 viên, sau 5 ngày tất cả các BN đều thoát hôn mê.

    Một nghiên cứu khác trị liệu 49 BN hôn mê sau thủ thuật điều trị cao áp tĩnh mạch cửa, ngoài phác đồ thông thường của y học hiện đại, kết hợp dùng ACNHH mỗi lần 1 viên, mỗi ngày 2-3 lần, hòa tan bơm qua sonde dạ dày; nhóm chứng 25 BN chỉ dùng tân dược đơn thuần. Kết quả: nhóm nghiên cứu đạt hiệu quả 75,5%, nhóm chứng đạt 51,7%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, thời gian cần thiết để thoát hôn mê và tỉ lệ tử vong ở nhóm nghiên cứu giảm rõ rệt so với nhóm chứng.

    - Hội chứng não sau chấn thương (pos-traumatic brain syndrome): đây là một hội chứng bệnh lý thường gặp, biểu hiện bằng các triệu chứng như đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, mất ngủ, suy giảm trí nhớ, rối loạn tư duy… kéo dài trên 3 tháng, thuộc phạm vi chứng đầu phong của y học cổ truyền.

    Một nghiên cứu tiến hành trên 208 BN, chia làm 2 nhóm (nhóm chứng 104 BN điều trị theo phác đồ của y học hiện đại; nhóm nghiên cứu 104 BN trị liệu như nhóm chứng nhưng thêm ACNHH, mỗi lần 1 viên, mỗi ngày 2 lần). Kết quả: nhóm chứng đạt hiệu quả 41%, nhóm nghiên cứu đạt 76%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,005).

    - Ung thư gan nguyên phát: dùng Thanh khai linh chú xạ dịch phối hợp với biện chứng y học cổ truyền trị liệu 74 BN ung thư gan nguyên phát, nhóm chứng 20 BN. Kết quả 66,5% BN nhóm nghiên cứu cải thiện rõ rệt các triệu chứng, sự khác biệt so với nhóm chứng có ý nghĩa thống kê.

    Một nghiên cứu khác dùng ACNHH trị liệu 20 BN ung thư gan giai đoạn muộn, uống mỗi ngày 1 viên, kết hợp với Sài hồ sơ can tán (với thể can uất khí trệ), Quế chi phục linh thang và Cách hạ trục ứ thang (với thể khí trệ huyết ứ), Nhất quán tiễn (với thể can âm hư), Nhân trần cao thang và Long đởm tả can thang (với thể can đởm thấp nhiệt), trung bình mỗi BN uống 27,6 viên, đạt hiệu quả cải thiện chứng trạng 75% số BN.

    - Viêm gan: nhiều người cho rằng, ACNHH có tác dụng rất tốt đối với những trường hợp viêm gan cấp tính mức độ nặng đe dọa hôn mê nhưng phải chỉ định sớm và dùng liều cao. Một nghiên cứu dùng ACNHH uống, kết hợp với Thanh khai linh chú xạ dịch 20-40 ml pha trong 500 ml huyết thanh ngọt 10% truyền tĩnh mạch, điều trị 16 BN viêm gan cấp tính thể hoàng đản, đạt hiệu quả 100%.

    - Viêm tụy cấp tính: dùng Thanh khai linh chú xạ dịch 40-60 ml pha trong 500 ml huyết thanh ngọt 10%, truyền tĩnh mạch 30-60 giọt/phút, trị liệu 26 BN viêm tụy cấp tính. Kết quả: khỏi 20 BN, đỡ nhiều 5 BN, không đỡ 1 BN (đạt hiệu quả 96,1%).

    - Suy thận mạn tính: một nghiên cứu dùng Thanh khai linh chú xạ dịch 30-40 ml pha với 250 ml huyết thanh ngọt 10% và Đan sâm chú xạ dịch pha với 250 ml huyết thanh ngọt 5%, truyền tĩnh mạch, mỗi ngày 1 lần, liệu trình 4 tuần, trị liệu 36 BN suy thận mạn tính. Kết quả: sau 1-2 liệu trình điều trị, đạt hiệu quả trên 31 BN, trong đó 13 BN có chuyển biến tốt, nồng độ urê và creatinin huyết thanh giảm rõ rệt so với trước điều trị (p < 0,01).

    - Động kinh: nghiên cứu dùng Ngưu hoàng tỉnh não chú xạ dịch thủy châm trị liệu 40 BN động kinh. Kết quả: sau 10-30 lần thủy châm (trung bình 18 lần), có 14 BN khỏi, 25 BN đỡ, 1 BN không có hiệu quả.

    - Sốt cao: nhiều nghiên cứu đã chứng minh ACNHH có tác dụng hạ sốt rất tốt, như:

    + Dùng Thanh nhiệt ngưu hoàng tán trị liệu 184 BN sốt cao, đạt hiệu quả 88%.

    + Dùng ACNHH trị liệu 9 BN sốt cao dai dẳng do ung thư, mỗi ngày uống 1 viên (nặng có thể uống 2 viên), liên tục trong 3-5 ngày. Kết quả: 9 BN đều hạ thân nhiệt xuống dưới 38°C sau 4-72 giờ (trung bình 27,2 giờ).

    + Nghiên cứu khác dùng Tỉnh não tĩnh chú xạ dịch trị liệu sốt cao trong các bệnh truyền nhiễm. Kết quả ngắn nhất sau 3 giờ và dài nhất sau 92 giờ, thân nhiệt BN trở về trị số bình thường. Với các BN sốt cao do viêm nhiễm đường hô hấp trên, viêm phổi cấp tính, viêm amidan và viêm ruột cấp tính, thân nhiệt trở về bình thường sau khi uống thuốc 6 giờ.

    Ngoài ra, ACNHH còn được nghiên cứu ứng dụng trong trị liệu một số bệnh lý nội khoa khác như tâm thần phân liệt, đau đầu dai dẳng, hội chứng phổi-não (pulmono-cerebral syndrome), hôn mê do rối loạn chuyển hóa porphirin (hematoporphyria), luput ban đỏ, rắn độc cắn…

    5.2. Nhi khoa:

    - Viêm phổi: trị liệu 50 trẻ sơ sinh bị viêm phổi nặng theo phác đồ tân dược thông thường có thêm ACNHH, uống mỗi lần 1/6 viên với trẻ dưới 3 tháng tuổi hoặc 1/3 viên với trẻ trên 3 tháng tuổi, mỗi ngày 3 lần. Kết quả: khỏi 48 BN, đỡ 1 BN, không có hiệu quả 1 BN. ACNHH cải thiện rõ rệt tình trạng khó thở và chướng bụng.

    - Ngừng hô hấp: dùng Ngưu hoàng tỉnh não chú xạ dịch cấp cứu 21 trẻ sơ sinh ngừng hô hấp do nhiều nguyên nhân khác nhau (viêm phổi, viêm phế quản-phổi, viêm màng não mủ, viêm ruột hoại tử, xuất huyết não…). Kết quả: khỏi 15 BN, đỡ 3 BN, không có hiệu quả 3 BN.

    - Một số bệnh khác: một nghiên cứu dùng ACNHH trị liệu các chứng “đàm”, “nhiệt”, “kinh”, “quyết” ở trẻ em (trong các bệnh viêm phổi, hen, viêm thận cấp tính, viêm não, động kinh, bạch cầu cấp…). Khảo sát trên 340 BN cho kết quả: sau 2 ngày điều trị hết sốt và hết khó thở ở 254 BN (74,7%), sau 6 ngày đạt kết quả ở 331 BN (97,3%); hết co giật và phục hồi ý thức tốt trên 23 BN.

    5.3. Ngũ quan khoa:

    - Viêm amidan cấp tính: dùng Thanh khai linh phối hợp với Ngân kiều giải độc thang trị liệu 60 BN viêm amidan cấp tính, nhóm chứng 60 BN điều trị theo phác đồ tân dược thông thường. Kết quả: nhóm nghiên cứu khỏi 44 BN, đỡ nhiều 12 BN, không đỡ 4 BN, đạt hiệu quả 93,3%; nhóm chứng khỏi 42 BN, đỡ nhiều 10 BN, không đỡ 8 BN, đạt hiệu quả 86,7%.

    - Viêm xoang mũi: dùng ACNHH trị liệu 24 BN viêm xoang mũi, mỗi 4-6 giờ uống 1/2 viên, đồng thời vệ sinh sạch sẽ hốc mũi và đặt vào một ít thuốc bọc gạc vô trùng (hai bên thay thế nhau), liệu trình từ 5-7 ngày. Kết quả: sau 1-2 liệu trình trị liệu, có 18 BN khỏi (theo dõi sau 1 năm không thấy tái phát) và 6 BN đỡ nhiều.

    Chỉnh sửa lần cuối bởi vodanh_dkh; 28/01/2013 vào lúc 10:48 PM.
    iframe: approve:
    • 9 Bài viết

    • 0 Được cảm ơn

    #2
    An cung ngưu hoàng hòn! Mỗi nhà nên có 3 viên để phòng tai biến

    iframe: approve:

LinkBacks Enabled by vBSEO