LỊCH SỬ

Quan niệm về ghép mỡ tự thân tuyến vú không phải mới. Năm 1895 Czerny thành công trong việc dùng khối mỡ lấy từ mông để ghép vào tuyến vú cho bệnh nhân bị cắt vú. Năm 1910, Hollander mô tả kỹ thuật bơm mỡ vào vú bị cắt. Đến giiữa thế kỹ 20, các phẫu thuật viên bắt đầu dùng mỡ để làm tăng thể tích tuyến vú với mục đích thẩm mỹ. Mặc dù cấy mỡ ngực cho kết quả lâu dài, vào thập niên 70, đặt túi độn ngực bằng silicone và nước biển đã lấn áp phương pháp nâng ngực bằng mỡ tự thân.


Do đó, cấy ghép mỡ bị bỏ quên trong nhiều năm. Với sự ra đời của kỹ thuật hút mỡ, việc cấy ghép mỡ bằng mỡ tự thân được hồi sinh. Bác sĩ Colemann- Hoa kỳ với hơn 14 năm kinh nghiệm trong việc cấy mỡ tự thân nâng ngực cho thấy đây là phương pháp an toàn, ngực tăng kích thước với hình dáng tự nhiên, mềm, kết quả lâu dài.

Hiện nay, cấy ghép mỡ tự thân vào ngực là một chọn lựa cho các phụ nữ trên toàn thế giới muốn gia tăng thể tích tuyến vú tự nhiên. Nhiều báo cáo trong hơn 10 năm qua trên lượng lớn bệnh nhân ở nhiều nước như Pháp, Ý, Trung quốc, Nhật bản, Hàn quốc, Hoa kỳ…cho thấy đây là phương pháp hiệu quả trong việc tạo hình và thẩm mỹ cho tuyến vú.

CHỌN BỆNH NHÂN: ghép mỡ được thực hiện để sửa chữa hoặc làm cải thiện nhiều bệnh lý của vú như:

  • Chỗ khuyết lõm sau khi tái tạo vú hoặc cắt một khối u ở vú
  • Tạo lại toàn bộ tuyến vú sau khu cắt vú ung thư hoặc lấy bỏ túi độn ngực
  • Che dấu túi độn ngực bị lộ ở bệnh nhân có thành ngực mỏng hoặc ở bệnh nhân có bao xơ co thắt sau đặt túi độn ngực: mỡ ghép làm tang chiều dầy của da do đó che được các bờ, nếp gấp của túi độn ngực bị lộ dưới da. Mỡ được đặt dưới da cũng giúp làm mềm bao xơ của túi độn.
  • Tạo hình tuyến vú bị co thắt cực dưới: trong trường hợp nầy từ quầng –núm vú trở xuống không có mỡ. Việc cấy mỡ sẽ làm thay đổi tỷ lệ tuyến vú và quầng vú tạo nên tuyến vú có hình dạng tự nhiên


  • Tạo lại rãnh giữa hai tuyến vú, sửa chữa xương ức lõm.
  • Tăng thể tích tuyến vú thẩm mỹ: các bệnh nhân sợ mang túi độn silicone, những người cần tăng thể tích vú vừa phải.
  • Điều chỉnh sự mất cân xứng về kích thước giữa hai vú.

Ưu điểm của phẫu thuật nâng ngực bằng mỡ tự thân là làm tăng thể tích tuyến vú vừa phải và tự nhiên, không đưa vật lạ vào cơ thể. Ngoài ra, còn lấy được lượng mỡ thừa để tạo dáng cho cơ thể.


Giới hạn chính của kỹ thuật nầy là những bệnh nhân có quá ít mỡ thừa. Vì mỡ được cấy vào ngực theo nhiều lớp, nên cần thể tích đáng kể để tăng kích thước ngực: cấy khoảng 300 cc mỡ cho mỗi bên làm tăng kích thước tuyến vú khỏang 1 cup. Do đó, nếu bệnh nhân muốn tăng kích thước ngực lên từ 2 cup trở lên, thì phải cần nhiều lần cấy mỡ. Như vậy, nếu bệnh nhân muốn tăng thể tích ngực quá to hoặc bệnh nhân quá ít mỡ thừa thì nên chọn đặt túi ngực thay vì cấy mỡ vào ngực.


KẾ HOẠCH MỔ

-Thiết kế cuộc mổ thay đổi theo từng bệnh nhân, theo mục đích phẫu thuật.
-Chụp hình trước mổ với tay dọc theo thân mình, hai tay chống trên hông và hai tay đặt sau đầu, bệnh nhân nghiêng người tới trước.Bảo bệnh nhân vặn xoắn túi ngực nếu có để cho thấy mức độ của bao xơ co thắt và vặn túi độn với cơ ngực. Điều nầy làm lộ ra những chỗ không đều, đánh dấu các chỗ nầy.
-Vẽ vùng lấy mỡ.

-Đánh dấu vùng cần cấy nhiều mỡ, vùng cần cấy ít.

KỸ THUẬT MỔ

Vô cảm: có thể gây mê hoặc tê tủy sống hoặc tê thần kinh liên sườn.
Lấy mỡ:

  • lấy mỡ ở vùng bệnh nhân muốn làm giảm lượng mỡ hoặc tạo lại hình dáng. Có thể lấy mỡ ở vùng lưng, hông, bụng để tạo eo đồng thời với cấy mỡ tăng kích thước vòng một hoặc lấy ở đùi. Nếu không đủmỡ, có thể lấy thêm ở các vùng như cẳng chân, cổ chân.
  • Vùng lấy mỡ được tiêm lactated Ringer pha với lidociane 0,2-0,5% và epinephrine 1:200.000 -1:400.000 với thể tích bằng với thể tích cần lấy ra.
  • Tạo các lổ vào nhỏ ở hông, lưng, trên xương mu, lỗ rốn.
  • Mỡ được hút bằngtay: dùng ống chích 10 cc có gắn với cannula kiểu Coleman.Tạo áp lực âm nhỏ kết hợp với động tác nạo sẽ hút từng cụm mỡ nhỏ và ít bị chấn thương.
  • Quay ly tâm 3000 vòng/phút trong 3 phút. Sau đó bỏ đi lớp ở trên (dầu) và dưới cùng (lớp nước), chỉ lấy phần lớp mỡ ở giữa. Mỡ được chuyển sang các ống chích 3-5 cc để tiêm vào ngực.



Dùng các đường rạch da 2-4 mm ở nếp dưới vú, ở quầng vú, ở nách. Dùng cannula cở 14-17 dài 9-15 cm đầu tù để bơm mỡ vào từng lớp của vú, kể cả cơ ngực lớn. Không bao giờ được dùng kim đầu nhọn để tránh đâm thủng mạch máu.


Phương pháp phẫu thuật nâng ngực là bơm mỡ vào lớp sâu thành ngực chủ yếu để làm tăng thể tích, trong khi bơm mỡ vào lớp nông hơn sẽ giúp tạo đường cong, hình dạng tuyến vú như mong muốn.Việc bơm mỡ lan tỏa theo nhiều lớp vào vú và chung quanh vú giúp cho mô mỡ được tồn tại lâu dài.





Theo J. Valgue, mô tuyến vú có hình dạng giống nhau ở tất cả các phụ nữ và hình dạng bộ nhũ hơi khác nhau (hình quả lê, bán cầu, đĩa) là do chiều dầy của lớp mỡ dưới da khác nhau. Bơm mỡ vào lớp dưới da sẽ tạo ra các hình dạng bộ nhủ hoa khác nhau theo sự mong muốn của bn. Do đó, một số tác giả như Louis benelli chỉ bơm mỡ vào lớp dưới da để làm tăng thể tích của vú. Có một số tác giả thích bơm lượng nhỏ mỡ (≤ 50 cc) vào lớp dưới da ở mỗi vú (12,5 cc cho mỗi ¼ vú). Nếu vôi hóa của mỡ xảy ra trong tương lai thì nằm dưới da và không thể lầm với ung thư vú.


Chìa khóa của sự sống sót sau cấy mỡ và hạn chế tối thiểu hoại tử mỡ là cấy mỡ thành các hạt rất nhỏ chứ không phải bơm thành từng cục mỡ. Điều này giúp cho mô mỡ được mạch máu chung quanh nuôi dưởng tốt. Nói chung, mỗi nhát kim tiêm chỉ khoảng 0,2 cc mỡ (bơm trong khi rút kim dần ra).




Nếu lượng lớn mỡ được tiêm vào với mỗi lần cho kim vào, kết quả là mỡ ở trung tâm không được máu nuôi sẽ hoại tử, tạo nang dầu, các cục cứng và vôi hóa.

Đây là một phương pháp nâng ngực an toàn với kỹ thuật hiện đại ngày nay. Gần như các bác sỹ có tay nghề cao được đào tạo tại các trung tâm thẩm mỹ lớn trên thế giới đều có thể thực hiện một cách an toàn được.