vẽ tranh ngày tết-Tranh Phong Thủy tranh ngày tết

    • 17 Bài viết

    • 0 Được cảm ơn

    #1
    Tình trạng: Đã bán

    Website tổng hợp các sản phẩm của thạch mộc thư họa : Tạo Chữ Thư Pháp

    Mỗi mùa xuân về, họa sĩ vẽ tranh ngày tết và mùa xuân. Việc treo những bức tranh ngày tết tranh thủy mặc , tranh ngày tết quê em, tranh ngày tết nguyên đán không chỉ giúp làm đẹp cho ngôi nhà, làm đẹp cho những bức tường, treo tranh ngày tết còn là một nghệ thuật thưởng lãm và mang đến nhiều may mắn tài lộc cho năm mới. Treo và bố trí tranh ngày tết trong phòng cũng cần có những kiến thức nhất định về màu sắc và bố cục. Dưới đây là các tác phẩm cửa hàng chúng tôi sẽ giúp các bạn có thêm sự chọn lựa trong việc bài trí và làm đẹp căn nhà của mình, đặc biệt là trong dịp năm mới sắp đến.




    vẽ tranh ngày tết-Tranh Phong Thủy-TPT-TTX 1


    vẽ tranh ngày tết-Tranh Phong Thủy-TPT-TTX 2


    vẽ tranh ngày tết-Tranh Phong Thủy-TPT-TTX 3


    vẽ tranh ngày tết-Tranh Phong Thủy-TPT-TTX 4


    vẽ tranh ngày tết-Tranh Phong Thủy-TPT-TTX 5


    vẽ tranh ngày tết-Tranh Phong Thủy-TPT-TTX 6


    vẽ tranh ngày tết-Tranh Phong Thủy-TPT-TTX 7


    vẽ tranh ngày tết-Tranh Phong Thủy-TPT-TTX 8


    vẽ tranh ngày tết-Tranh Phong Thủy-TPT-TTX 9


    vẽ tranh ngày tết-Tranh Phong Thủy-TPT-TTX 10


    vẽ tranh ngày tết-Tranh Phong Thủy-TPT-TTX 11


    vẽ tranh ngày tết-Tranh Phong Thủy-TPT-TTX 12


    vẽ tranh ngày tết-Tranh Phong Thủy-TPT-TTX 13


    vẽ tranh ngày tết-Tranh Phong Thủy-TPT-TTX 14


    vẽ tranh ngày tết-Tranh Phong Thủy-TPT-TTX 15


    vẽ tranh ngày tết-Tranh Phong Thủy-TPT-TTX 16


    vẽ tranh ngày tết-Tranh Phong Thủy-TPT-TTX 17


    vẽ tranh ngày tết-Tranh Phong Thủy-TPT-TTX 18


    vẽ tranh ngày tết-Tranh Phong Thủy-TPT-TTX 19


    vẽ tranh ngày tết-Tranh Phong Thủy-TPT-TTX 20


    vẽ tranh ngày tết-Tranh Phong Thủy-TPT-TTX 21


    vẽ tranh ngày tết-Tranh Phong Thủy-TPT-TTX 22


    vẽ tranh ngày tết-Tranh Phong Thủy-TPT-TTX 23


    vẽ tranh ngày tết-Tranh Phong Thủy-TPT-TTX 24


    vẽ tranh ngày tết-Tranh Phong Thủy-TPT-TTX 25


    vẽ tranh ngày tết-Tranh Phong Thủy-TPT-TTX 26


    vẽ tranh ngày tết-Tranh Phong Thủy-TPT-TTX 27


    vẽ tranh ngày tết-Tranh Phong Thủy-TPT-TTX 28


    vẽ tranh ngày tết-Tranh Phong Thủy-TPT-TTX 29


    vẽ tranh ngày tết-Tranh Phong Thủy-TPT-TTX 30


    vẽ tranh ngày tết-Tranh Phong Thủy-TPT-TTX 31


    vẽ tranh ngày tết-Tranh Phong Thủy-TPT-TTX 32


    vẽ tranh ngày tết-Tranh Phong Thủy-TPT-TTX 33


    vẽ tranh ngày tết-Tranh Phong Thủy-TPT-TTX 34


    vẽ tranh ngày tết-Tranh Phong Thủy-TPT-TTX 35


    vẽ tranh ngày tết-Tranh Phong Thủy-TPT-TTX 36


    vẽ tranh ngày tết-Tranh Phong Thủy-TPT-TTX 37


    vẽ tranh ngày tết-Tranh Phong Thủy-TPT-TTX 38


    vẽ tranh ngày tết-Tranh Phong Thủy-TPT-TTX 39



    Những ghi nhớ khi treo tranh ngày Tết

    Hoán đổi vị trí các bức tranh

    Nếu trong phòng trong nhà đã có sẵn một vài bức tranh treo ngày tết , bạn có thể mang lại sự mới mẻ cho không gian bằng cách hoán đổi vị trí của chúng. Cách làm tuy đơn giản nhưng có thể mang lại hiệu quả thẩm mỹ và vẻ đẹp mới lạ cho ngôi nhà của bạn.

    Treo tranh phù hợp với từng không gian

    Mỗi phòng trong nhà chúng ta đều có một chức năng riêng biệt. Do vậy, khi chọn tranh ngày tết, treo tranh bạn cũng nên lưu ý đến việc lựa chọn sao cho phù hợp với từng căn phòng.
    Trước khi treo tranh, các bạn nên tham khảo và được sự tư vấn chọn lựa những bức tranh ngày tết phù hợp với căn của bạn. Ví dụ phòng khách là nơi thường xuyên đón tiếp, gặp gỡ, trò chuyện với gia đình, bạn bè, đối tác. Treo những bức tranh phong cảnh đẹp sông núi, làng quê hữu tình sẽ mang đến không khí ấm áp và nồng nhiệt cho căn phòng của bạn. Những câu đối, câu chúc tết, tranh ngày tết nguyên đán, tranh ngày tết quê em...hay những bức tranh theo chủ đề bốn mùa cũng rất phù hợp với không khí ngày Tết. Khác với không khí nhộn nhịp, đông vui của phòng khách, phòng ngủ là không gian cho sự nghỉ ngơi yên tĩnh. Vì thế, bạn hãy chọn những bức tranh có màu sắc nhẹ nhàng, trang nhã giúp không gian trở nên yên bình và thư thái. Mặt khác, bạn có thể chọn khổ tranh vừa phải, không nên quá lớn sẽ tạo cảm giác nặng nề khi nghỉ ngơi trong phòng.

    Trang trí tranh bằng ánh sáng

    Việc sử dụng ánh sáng để trang trí cho những bức tranh ngày tết và mùa xuân thường đem lại hiệu quả cao vì ánh sáng làm cho tranh có chiều sâu và lung linh hơn (chúng tôi có cung cấp các loại đèn hãng netviet giá cạnh tranh, các anh chị lựa chọn theo catalogue)

    Làm mới tranh

    Những bức tranh treo trên tường qua một thời gian dài không tránh khỏi bụi bẩn bám vào bề mặt tranh hoặc ở các khe nhỏ giữa khung tranh và tranh. Vì vậy bạn nên chú ý làm mới tranh theo định kỳ và đảm bảo việc “chăm sóc” các bức tranh đúng cách.
    Nếu khung tranh quá cũ thì có thể sơn lại cũng là một cách thú vị để bức tranh trong phòng trông mới hơn.

    Chọn độ cao khi treo tranh

    Khi treo tranh, nên chọn vị trí vừa tầm mắt vì nếu treo cao quá hoặc thấp quá sẽ làm bức tranh bị biến dạng hoặc khó quan sát khi chiêm ngưỡng những tác phẩm nghệ thuật trên tường.


    P/S : chúc Các Anh Chị chọn được bức tranh ưng ý với căn nhà của mình. Các Anh Chị cần tư vấn chọn tranh phù hợp với Phong Thủy ngôi nhà của mình hãy liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại 0908.259.519

    Chỉnh sửa lần cuối bởi thachmocthuhoa; 30/12/2013 vào lúc 01:00 AM.
    • 12,277 Bài viết

    • 531 Được cảm ơn

    #2
    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • 17 Bài viết

    • 0 Được cảm ơn

    #3
    Cảm ơn bạn

    • 17 Bài viết

    • 0 Được cảm ơn

    #4
    Các Thầy Cô gọi viết thư pháp là “viết chữ xấu” (!). Quan điểm này không khó chấp nhận. Vì chữ viết phải ngay ngắn thẳng hàng và đồng đều mới được gọi là điều kiện cần trong tiêu chuẩn đánh giá chữ đẹp để bổ sung cho điều kiện đủ là “đẹp”.

    Thế nhưng có người vừa nhìn vào một bức thư pháp đã cho là “đẹp” ngay, mặc dầu chữ viết xiên xẹo, lệch lạc, nguệch ngoạc, thiếu cân xứng. Cách thưởng thức này cũng được đa số người lớn chấp nhận dễ dàng vì nó đáp ứng được quan điểm “mỹ học” (sic!).

    Riêng “giới thư pháp” thì lại chưa hài lòng với những cách nhìn nhận trên.

    Nếu chỉ để đáp ứng cái khiếu thẩm mỹ thì thư pháp chỉ còn lại là một cách viết chữ đẹp;

    Có người nói: đó chỉ là thư họa. Họa là vẽ, nghĩa là vẽ chữ!

    Người Trung hoa, Á rập nổi tiếng về nghệ thuật thư pháp không lấy gì làm lạ. Với chữ tượng hình thì họ chỉ cần viết chữ đẹp – bay bướm, cách điệu và phối các nét thanh và các nét đậm vào trong một bố cục – thì họ cũng đã đạt đến nghệ thuật thư pháp rồi. Chữ của họ là chữ tượng hình ( dù chỉ 30%) nên tự nó có thể biểu đạt được ý nghĩa rồi nên ít cần đến nghệ thuật diễn ý. Ý đã hàm trong từ. Như một nhà thư pháp Trung hoa đã nói: “ Khi ý ở đầu ngọn bút, khỏi cần phải đi đến tận cùng ý.” [Hassan Massoudy-Người đưa tin UNESCO 12.1990-tr.38]. Và từ “thư pháp” của Trung hoa có nghĩa là “cách viết chữ” [calligraphy] tức “the Art of Written Forms” theo định nghĩa của Phương tây!

    Với định nghĩa như thế, nhà thư pháp Việt Nam chưa hài lòng! Chưa hài lòng vì Tiếng Việt thuộc loại từ ký âm chứ không thuộc loại từ biểu ý; Nên cho dầu viết có đẹp mà chưa đạt ý thì họ chưa vừa lòng. Mà thư pháp thì không chịu dừng lại cho đối tượng thẩm mỹ.

    Mỗi bức thư pháp là một thông điệp! Một tâm tình ! Một bản thể!

    Để đạt mong muốn đó, nhà thư pháp Việt Nam hầu như phải tự đi tìm một con đường riêng – một trường phái – Có thể tên gọi thì còn chờ đợi…nhưng cách bứt phá thì họ đã khai phá !

    Trình bày cái hệ ngôn ngữ ký âm như Tiếng Việt qua nghệ thuật thư pháp đòi hỏi người viết chữ phải vượt lên trên thư pháp (cách viết chữ) để đạt đến ngôn họa (cách tạo hình [viết] cho lời nói); vì điều họ viết ra gọi là ngôn (lời nói). Họ viết, không phải chỉ cốt trình cái chữ mà là trình cái bụng họ ra tức “ngôn vi tâm thanh” = lời nói là tiếng của tâm (tiếng lòng). Vì vậy, cái diễn bày tư tưởng ở ngôn họa VN là chủ đạo chứ không phải cốt để trình bày chữ viết (thư pháp).

    Chỗ khác nhau giữa ngôn họa và thư pháp là ở biểu ý chứ không phải biểu mỹ. Vì chữ của ta là “phát âm sao viết vậy”; nghĩa là “viết sao là nói vậy” – và họ viết tức là nói!

    Họ mượn nghệ thuật viết để nói. Họ nói bằng nghệ thuật viết! Có thể gọi đó là thuật nói chuyện của người viết chữ.

    Viết là tìm cách biểu đạt ngôn ý [ý trong lời nói], là thể hiện cách nói. Nói thế nào cho người khác hiểu lòng mình, ấy gọi là ngôn chí [bày tỏ cái ý chí của mình] và trình bày ra chữ viết thông qua hội họa phải chăng gọi là NGÔN HỌA : nghệ thuật tạo hình (viết, vẽ) ra lời nói. Nói qua cách viết/vẽ ! Vì chữ của ta là biểu âm: nói sao viết vậy!

    Khi nói, chính cái giọng điệu mới diễn đạt hết cái ý của người nói. Khi giận dữ, lúc yêu thương, khi cầu khẩn, lúc sai khiến, gợi ý hay chiều lòng…đều với một âm sắc riêng để bày tỏ cái tâm tình ấy. Khi hai cô gái Huế nói với nhau: “mái tóc con Thùy da…ài…ì…ì…!”. Một nhà diễn thuyết trình bày: “ lên NON, non TĨNH ! Xuống ĐOÀI, đoài YÊN !.” Chuyển thể từ cách viết này trong văn pháp qua ngôn pháp, nhà ngôn họa sẽ diễn đạt từng con chữ mạnh, nhẹ, dứt khoát hay ngập ngừng hoặc lả lướt, uyển chuyển tùy vào từng âm tiết của lời nói hơn là trình bày câu văn.

    Nói bằng nghệ thuật viết : Tiết tấu , nhịp điệu, trường độ, cao độ

    Cái âm tiết Tiếng Việt là thanh, cho nên chính cái âm sắc/âm lượng khi nói mới là sức diễn đạt, và cũng chính âm sắc mới xác định ngữ nghĩa biểu đạt của từ hơn là chính nghĩa của từ. Và cũng chính vì thế mà Việt nam có một thể loại diễn ý một cách độc đáo và đặc sắc mà hầu như ít có dân tộc nào có được: đó là NGÂM THƠ!

    Cái “âm điệu trong ngâm thơ” tặng cho ngòi bút nhà ngôn pháp cái âm lượng để thành một trường phái ngôn pháp Việt nam độc đáo và độc lập.

    Tùy vào tâm trạng, tùy vào khí thế mà mỗi câu chữ có thể thể hiện qua cách ngâm Tao đàn, Sa mạc (bồng mạc), Lãy Kiều, Lục Vân Tiên (Bạc Liêu), Vè hay Ngâm Huế hoặc Hò…(Bắc, trung, Nam).

    Để diễn tả niềm vui hay phong kín, ta có thể dùng lối Nam xuân (Bắc) hoặc diễn bày nổi buồn, ai oán thì dùng lối Nam ai/Nam oán.

    Con chữ sẽ mạnh, nhẹ…dứt khoát hay kéo dài…theo với làn điệu ngân nga của thể thơ mà nhà ngôn họa mượn làn hơi của người ngâm mà thể hiện qua ngọn bút!

    Vì thế, không chừng, nếu nhà ngôn họa Việt nam nhấn mạnh hoặc ẻo lả không đúng chỗ sẽ dẫn đến sự hiểu lầm trái ý mình. Trong trường hợp này, người thưởng lãm không hiểu sai ý người viết mà chính người viết trình bày sai ý mình.

    Và một bức tranh ngôn họa cũng đáp ứng ba yếu tố cơ bản này: Chủ điểm – Bố cục và Nghệ thuật.

    Chủ điểm :

    “Đại Tự ” chủ đạo được đặc biệt cường điệu, gây ấn tượng mạnh mẽ, thu hút ngay sự chú ý nơi người xem. Nhờ cách gợi ý đó mà điều họ muốn nói đã được quan tâm. Điều họ muốn nói đã nói ra lời (ngôn). Khi ấy bức ngôn họa thành ra để “nghe” hơn là để ngắm.

    Ngôn họa Việt là sự “bạo động” để đánh bật dậy cái tiềm thức cảm thụ uyên nguyên ngủ vùi trong mỗi con người cho sực tĩnh, như Tôn Ngộ Không đánh thức ngựa dậy khi ngựa ngủ – và ở bố cục sẽ làm nhiệm vụ lùa ngựa về chuồng khi ngựa đi rong.

    Bố cục :

    “Từ” được phối trí trong tiết tấu kỹ hà nên tạo được nét hài hòa và vị trí được thu xếp đúng chỗ đã đưa được cái hỗnn độn vào trật tự, làm cho người thưởng lãm không mất định hướng trước điệu vũ của các con chữ. Trong bố cục, nhà ngôn họa không quên sức mạnh của “hư không” – cái không gian trống vắng trong bức tranh. Chính cái khoảng trống – như khoảng lặng trong âm nhạc – đưa cái hư không đối diện với con người, làm cho con người bổng dưng rơi vào im vắng tịnh mịch. Im lặng, một nghệ thuật chiêu dụ trong thuật nói chuyện, kích thích sự chú tâm, chuẩn bị cho người nghe một sự đón nhận nôn nóng; mà nhà ngôn họa mượn lại trong cách ngưng tĩnh đó để “nói” với người xem. Như thế, viết một bức ngôn họa hay chiêm ngắm đã trở thành một hành động tham gia, một hình thức suy tưởng để lời nói và ý nhẹ nhàng bộc lộ.

    Nghệ thuật:

    Thủ pháp của nhà ngôn họa là mượn lại cái tính phóng túng của thiên nhiên trong phong thái bộc lộ để gợi mở cái mỹ cảm sơ nguyên cũng cơ hồ huyền ảo trong mỗi con người. Như thế, qua ngọn bút, họ phục hoạt lại cái nghệ thuật đột phá của thiên nhiên (Nghệ Thuật Phản Cải Cách), cái lả lướt, cái hờ hững trong ngôn họa làm cho sức dẫn dụ càng thêm lôi cuốn để dễ tái tạo trong tâm người xem cái mà họ đánh mất trong lúc đi tìm – cái ngạc nhiên ban sơ ấy – Không gì kích thích bằng cái nửa kín nửa hở, thực thực hư hư, làm cho đối phương bị dục phải hạ quyết tâm khai mở: đó là biện pháp hư cấu trong ngôn họa! Khơi dậy được cái tình cảm ngạc nhiên là đánh thức cái động năng khám phá nơi con người, thì từ đó (ở đây là người xem tranh) họ mới liễu được cái ẩn dụ mà người viết chôn chặt tự đáy lòng.

    Lấy nét bút hòa cùng cái vô thường của thiên nhiên để đạt ý là cả một công phu nghệ thuật. Nhà ngôn họa chỉ mong làm được điều ấy để sẻ chia nỗi niềm cùng với người thưởng lãm…

    CÒN TIẾP…

    • 17 Bài viết

    • 0 Được cảm ơn

    #5
    Xem tranh thư pháp , nhất là với những nét đan thanh, thoát tục, hào sản, hùng vĩ, con người tiêu dao nhàn tản trong thiên nhiên bao la, ta không khỏi nghĩ đến Đạo của Lão tử, và thuyết Vô vi của Trang Tử. Đôi khi, cái không khí trầm mặc của những bức họa cũng không khỏi làm cho ta nghĩ đến cái tinh thần của Thiền đạo. Mặt khác, cái đẹp trang trọng, cổ kính, rất tế nhị, mà cũng rất hoành tráng của chúng, không khỏi chinh phục con mắt thẩm mỹ của ta.

    Tuy nhiên, sự cảm thụ thẩm mỹ ấy đôi khi cũng bị giới hạn, vì ta không nắm bắt được hết những cái tinh tế của các tác phẩm về mặt nghệ thuật, cũng như về mặt nội dung tư tưởng. Đôi khi, ta tự hỏi, trong cái cõi mênh mông ấy, con người, một sinh vật cỏn con, với tầm nhìn giới hạn của mình, làm sao mà có thể nhìn thấy được hết cả gần, xa, tầng tầng lớp lớp nối tiếp nhau?

    Thực ra, những điều bí ẩn, tinh tế lớn nhất có lẽ là những tư tưởng triết lý ở đằng sau chúng. Mà điều này, lại thấy được nói đến trong Kinh Dịch (còn được gọi là Chu Dịch), một cuốn sách ra đời cách đây đã trên 2000 năm, và thông thường chỉ được dùng nhiều cho việc bói toán! Dường như trong từng đường nét, bố cục của thư pháp ít nhiều liên quan đến những tư tưởng triết học Phương đông: khí, ý, thần; rồi đến các quy tắc về hình, tượng, về cách dùng bút, mực và màu sắc; cuối cùng, là quy tắc về cách bố trí sự vật trong không gian.

    Khái niệm “Ý” cũng là một khái niệm có tính chất triết lý, mà nguồn gốc cũng là ở Kinh Dịch. Thư Pháp, thực chất là một sự theo đuổi siêu hình, chứ không phải là một sự mô phỏng hay tái hiện giản đơn sự vật bên ngoài. Nhà thư Pháp không chỉ thể hiện hình tượng của sự vật, mà chủ yếu là cái hàm ẩn trong hình tượng, khiến cho hình tượng tràn đầy sức sống. Thể hiện sự biến hóa chưa đủ, mà còn phải thể hiện được cả cái tâm linh và sinh mệnh của chữ.

    Nhịp điệu trong ngôn ngữ nghệ thuật phương Tây, mặc dầu chỉ giới hạn ở một nội dung cụ thể, là thể hiện cái cấu trúc và cái bản chất của sự vật, nói lên sự sống của nó, hoặc cái động cơ, cái hàm ý chứa ẩn trong nó, tuy cũng gần với hai khái niệm khí và thần, song, trong khi khái niệm nhịp điệu có gốc rễ từ sự quan sát và nhận thức khoa học, thì các khái niệm khí, ý và thần lại có một nội dung triết lý cao siêu, mặc dầu vẫn xuất phát từ con người và lấy sinh mệnh con người làm gốc.

    Có thể nói rằng, phần lớn những quy tắc kể trên của thư pháp có gốc rễ từ những tư tưởng triết học cổ đại, từ quan niệm về Đạo, về vũ trụ, về âm – dương, về sự đối lập hài hòa của sự vật và của các cặp phạm trù như cương nhu, sáng tối…, về sinh mệnh của vũ trụ và con người. Những tư tưởng triết lý này, cùng với một số tư tưởng về nghệ thuật và về văn học đã được ghi lại ở trong Kinh Dịch.

    Xuất hiện vào nửa đầu thời Chiến quốc (476-221 tr.C.N.) và được tiếp tục vào các thời Tần-Hán (thế kỷ III tr.C.N.), Kinh Dịch là một tác phẩm của nhiều tác giả. Tư tưởng trong Kinh Dịch dung hoà cả tư tưởng của Khổng tử, Lão tử và Âm dương gia, và thường được dùng trong việc bói toán. Tuy nhiên, nó có cái độc đáo là đã triển khai nhiều tư tưởng triết học có trước nó, hoặc của chính nó, liên quan đến nghệ thuật và văn chương.Những tư tưởng trong Kinh Dịch, tư tưởng về sự đối lập hài hoà của sự vật, về thuyết âm dương, nên chăng dựa trên quan điểm mỹ học phát triển ngày một cụ thể và phong phú thêm:

    1. Mọi sự vật trong thiên hạ, tất cả đều không ngoài âm, dương. Lấy ánh sáng mà bàn: sáng là dương, tối là âm; lấy ngôi nhà mà bàn, bên ngoài là dương, bên trong là âm; lấy vật thể mà bàn, cao là dương, thấp là âm; lấy đắp vun mà bàn, chỗ nhô lên là dương, chỗ thụt xuống là âm… Vì có âm, có dương, nên nét bút có hư, có thực.

    2. Viết thư pháp, quan trọng nhất là phải biểu đạt được tính tình của chữ, vẽ được tính tình của nó, thì vẽ được cái thế nhấp nhô ôm bọc, như nhảy như ngồi, như cúi ngẩng, như buộc chân, tự nhiên tình của chữ là tình của ta, mà hạ bút không đuối. Cũng vẽ được cái thế sóng trào cuồn cuộn, như hoa văn, như kỳ lân, như mây cuốn, như nộ dâng, như mặt quỷ, tự nhiên tình sông nước là tình ta, mà hạ bút không cứng nhắc.

    3. Chữ có phản có chính, có nghiêng có lệch, có tụ có tán, có gần có xa, có trong có ngoài, có hư có thực, có đứt có liền, có tầng lớp, có phong trí, có phiêu diêu, đấy là nét lớn của cuộc sống. Nếu không như thế, làm sao khiến cho dưới ngòi bút lại có thai có cốt, có khai có hợp, có thể có dụng, có hình có thể, có củng có lập, có quỳ có nhảy, có xung lên mây, có thế bàng bạc, có cheo leo, có gập ghềnh, có hiểm có yếu… tất cả đều linh thiêng và đủ thần dị.

    Xem như vậy, không gian trong các bức thư pháp không phải là không gian thị giác, mà là không gian hư cấu, trong đó vai trò của bố cục chiếm một địa vị quan trọng, dựa trên một nền phông tư tưởng triết lý và mỹ học của Kinh Dịch về vũ trụ và con người, về sinh mệnh, nhằm thể hiện sức sống dồi dào của trời đất muôn vật và loài người, trên cơ sở tình và vật giao hoà lẫn nhau, con người và thiên nhiên thống nhất.